Chương 1 - Giới thiệu đề tài Chương 2 – Tổng quan các lĩnh vực nghiên cứu Chương 3 – Phương pháp thực hiện Chương 4 – Đề xuất mô hình Chương 5 – Kiểm chứng kết quả Chương 6 – Kết luận và hướng nghiên cứu 3 2. CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2. XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI HỆ THỐNG THÔNG TIN SANG CLOUD Ở VIỆT NAM Thị trường điện toán đám mây ở Việt Nam Sự phát triển của thị trường điện toán đám mây vẫn đang đối mặt với tình trạng thắt nút cổ chai về hạ tầng mạng, mặc dù đứng sau mức độ tiên tiến nhất của thị trường Châu Á Thái Bình Dương về các mạng băng thông rộng trong nước và kết nối quốc tế. Tuy nhiên, đà phát triển kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam bao gồm thu nhập ngày càng tăng và sự tăng trưởng của ngành dọc như sản xuất, gia công phần mềm điện tử, sẽ dẫn đến nhu cầu về các giải pháp điện toán đám mây ngày càng tăng.
Hình 2-1 - Thị trường điện toán đám mây [19] Theo Hình 2-1, dự báo chi tiêu cho các dịch vụ điện toán đám mây ở Việt nam từ năm 2015 đến năm 2021 (tính theo đơn vị triệu VNĐ). Các nhu cầu nền tảng đối với dịch vụ điện toán đám mây ở Việt Nam cũng giống như toàn cầu: chi phí thuận lợi hơn (giảm chi tổng chi phí sở hữu và chi phí hoạt động trả trước) và tính linh hoạt cao hơn được cung cấp bởi các giải pháp điện toán đám mây so với triển khai tại chỗ. Đây sẽ là những tác động bất đối xứng đối với thị trường doanh nghiệp. Ví dụ, lợi thế về chi phí rất quan trọng cho sự phát triển thị trường SME trên nền tảng đám 4 mây, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi nơi sản phẩm và giải pháp CNTT dành cho SME trở nên rất thấp.
Trong khi đó, tính linh hoạt hoặc tính năng mới được giới thiệu thông qua việc áp dụng đám mây là một yếu tố thúc đẩy trong thị trường doanh nghiệp lớn. Theo báo cáo khảo sát kết quả của VMWare vào tháng 3 năm 2015, có khoảng 91% doanh nghiệp Việt Nam dự kiến sẽ ảo hóa ít nhất 30% cơ sở hạ tầng CNTT trong hai năm tới (Báo cáo BMI – quý 3-2017) [19]. Tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và hiệu quả hoạt động được coi là động lực chính của xu hướng ảo hóa ở Việt Nam, trong khi chi phí, văn hoá kinh doanh và thiếu thông tin là những rào cản chính đối với việc áp dụng. Cuộc khảo sát cho thấy ưu tiên hàng đầu về CNTT cho doanh nghiệp Việt Nam vào năm 2015 là phục hồi thảm hoạ và đảm bảo liên tục kinh doanh (25%), đảm bảo an ninh thông tin và bảo vệ dữ liệu (29%) và giảm chi phí (24%), ngoài ra để làm việc từ xa cũng tạo ra nhu cầu (Báo cáo BMI – quý 3-2017) [19].
VMWare ước tính rằng việc chấp nhận đám mây đang phát triển nhanh hơn ở Việt Nam so với khu vực, do thiếu hệ thống tại chỗ và do tình trạng phát triển chậm của Việt Nam. Mặc dù cuộc khảo sát cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng, an ninh thông tin vẫn tiếp tục là rào cản cho việc thông qua các doanh nghiệp. VMWare và Symantec đều được trích dẫn lập luận rằng mức độ huấn luyện phải tăng giữa các doanh nghiệp để họ có thể so sánh các rủi ro về an ninh thông tin đối với các giải pháp CNTT đám mây và tại chỗ. Về việc thông qua người dùng cuối, các tổ chức chính phủ khác nhau, bao gồm Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã bắt đầu sử dụng dịch vụ đám mây như là một cách cắt giảm chi phí.
Các lĩnh vực khác của điện toán đám mây bao gồm ngân hàng và bán lẻ, vì các tổ chức trong các lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả và tiết kiệm tiền cho đầu tư phần cứng. Những đặc điểm này của thị trường điện toán đám mây Việt Nam đã được phản ánh trong chỉ số về kết nối đám mây của Châu Á trong năm 2014. Việt Nam là thị trường ghi điểm thấp nhất trong cuộc khảo sát này, sau Ấn Độ. Điểm số của Việt Nam cho thấy sự yếu kém về kết nối quốc tế, sự riêng tư và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (xem biểu đồ Hình 2-2).
5 Hình 2-2 - Chỉ số về kết nối đám mây của Châu Á trong năm 2014 [19] 2. ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY Điện toán đám mây (Cloud Computing) là một mô hình cho phép truy cập qua mạng ở khắp mọi nơi, thuận tiện, và theo yêu cầu đối với một tài nguyên máy tính được chia sẻ (ví dụ: mạng, máy chủ, hệ thống lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ), có thể cung cấp và đưa ra sử dụng một cách nhanh chóng với chi phí quản lý tối thiểu hoặc chỉ tương tác với nhà cung cấp dịch vụ. (NIST) [3] Những tính năng quan trọng của Cloud Computing: Tự phục vụ theo nhu cầu (On-demand sefl service): người dùng có thể tự tính toán nhu cầu sử dụng như thời gian phục vụ, lưu trữ mạng mà không cần sự tương tác với các nhà cung cấp dịch vụ. Truy xuất diện rộng (Broad network access): khả năng truy cập thông qua mạng với bất kỳ thiết bị nào như điện thoái, máy tính, máy tính bảng… Nguồn tài nguyên (Resource pooling): tài nguyên dùng chung linh hoạt, đa dạng và cấp phát theo nhu cầu sử dụng của người dùng.
Co giãn nhanh chóng (Rapid elasticity): khả năng cung cấp nhanh chóng, linh hoạt các yêu cầu tăng tài nguyên sử dụng, cũng như khả năng thu hồi tài nguyên sử dụng khi người dùng không có nhu cầu. 6 Đo lường dịch vụ (Measured Service): hệ thống đám mây có thể tự động điều khiển và tối ưu hóa tài nguyên sử dụng. Tài nguyên sử dụng được theo dõi, giám sát và báo cáo cho nhà cung cấp dịch vụ và người dùng dịch vụ điện toán đám mây. Những mô hình triển khai của điện toán đám mây: Public cloud (điện toán đám mây công cộng): hạ tầng điện toán đám mây có thể được sở hữu, quản lý và điều hành bởi một tổ chức kinh doanh, một tổ chức nghiên cứu hoặc chính phủ hoặc một số kết hợp giữa các tổ chức để sử dụng rộng rãi bởi công chúng dùng chung.
Mô hình triển khai Public cloud như Hình 2-3: Hình 2-3 - Public cloud (NIST.500-322) [3] Private cloud (điện toán đám mây riêng): hạ tầng dành cho đám mây được cung cấp cho một tổ chức duy nhất bao gồm nhiều khách hàng và có thể được sở hữu, quản lý và vận hành bởi doanh nghiệp, hoặc một đơn vị bên ngoài, hoặc là sự kết hợp giữa các đơn vị trên. Mô hình triển khai Private cloud như Hình 2-4 và Hình 2-5: 7 Hình 2-4 - On-site Private cloud (NIST.500-322) [3] Hình 2-5 - Outsourced Private Cloud (NIST.500-322) [3] Hybrid cloud (đám mây bắt cầu): hạ tầng đám mây là sự kết hợp giữa hai hoặc nhiều hạ tầng đám mây khác biệt (private cloud, public cloud hay community cloud) thành một thực thể duy nhất, được gắn kết với nhau bởi công nghệ chuẩn hóa hoặc độc quyền cho phép di chuyển dữ liệu và ứng dụng linh hoạt. 8 Mô hình triển khai Hybrid cloud như Hình 2-6: Hình 2-6 - Hybrid cloud (NIST.500-322) [3] Community cloud (đám mây cộng đồng): hạ tầng đám mây được cung cấp để chia sẻ với một cộng đồng người dùng cụ thể, tạo thành các tổ chức để chia sẻ mối quan tâm. Nó có thể được sở hữu, quản lý và điều hành bởi một hoặc nhiều tổ chức trong cộng đồng, bên thứ ba hoặc sự kết hợp giữa họ.
Mô hình triển khai như Hình 2-7 và Hình 2-8. Hình 2-7 - On-site Community Cloud (NIST.500-322) [3] 9 Hình 2-8 - Outsourced Community Cloud (NIST.500-322) [3] Ba mô hình dịch vụ được mô tả trong NIST Cloud Computing: Software as a Service (SaaS): phần mềm như một dịch vụ, khả năng cung cấp cho người dùng sử dụng các ứng dụng của nhà cung cấp chạy trên nền tảng điện toán đám mây. Khách hàng có thể truy cập các ứng dụng từ các thiết bị khác nhau như máy tính cá nhân, thông qua trình duyệt web, hoặc thông quan giao diện ứng dụng. Người sử dụng không quản lý, kiểm soát hạ tầng điện toán đám mây bên dưới như máy chủ, mạng, hệ điều hành, lưu trữ, một số trường hợp ngoại lệ có thể cài đặt cấu hình ứng dụng cụ thể.
Platform as a Service (PaaS): khả năng cung cấp cho người nền tảng để triển khai các ứng dụng do người dùng tạo ra hoặc mua lại dựa trên cơ sở điện toán đám mây, được tạo ra bằng cách sử dụng các ngôn ngữ lập trình, thư viện, dịch vụ và các công cụ được nhà cung cấp hỗ trợ. Người dùng không quản lý hoặc kiểm soát cơ sở hạ tầng điện toán đám mây bao gồm mạng, máy chủ, hệ điều hành hoặc bộ nhớ, nhưng có quyền kiểm soát các ứng dụng được triển khai và có thể cài đặt cấu hình cho môi trường lưu trữ ứng dụng. Infrastructure as a Service (IaaS): hạ tầng như một dịch vụ. Khả năng cung cấp cho người dùng là cung cấp lưu trữ, mạng và các tài nguyên máy tính cơ bản khác, người dùng có thể triển khai và chạy phần mềm tùy ý, bao gồm hệ điều 10 hành và ứng dụng.
Người dùng không quản lý hoặc kiểm soát cơ sở hạ tầng điện toán đám mây bên dưới nhưng có quyền kiểm soát các hệ điều hành, lưu trữ và triển khai các ứng dụng. Hình 2-9 - Chia sẻ trách nhiệm quản lý (nguồn Internet) Hình 2-10 - Một số nhà cung cấp dịch vụ Cloud (Nguồn Internet) Những mô hình dịch vụ mới XaaS (Everything as a Service) của điện toán đám mây: Data as a Service (DaaS) 11 Big Data as a Service (BDaaS) Storage as a Service (SaaS) Communication as a Service (CaaS) Network as a Service (NaaS) Monitoring as a Service (MaaS) 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ CLOUD 2. Chuẩn công nghệ thông tin ISO/IEC 9126 Tiêu chuẩn ISO/IEC 9126 [10] xác định sáu đặc tính mô tả chất lượng phần mềm và cung cấp một cơ sở để tối ưu hơn cũng như mô tả chất lượng phần mềm và hướng dẫn sử dụng các đặc tính chất lượng để đánh giá chất lượng phần mềm.
Những đặc điểm này bao gồm: - Chức năng: các chức năng yêu cầu có sẵn để sử dụng. - Độ tin cậy: tính khả thi của một phần mềm để duy trì mức độ hoạt động theo các điều kiện.