phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Vai trò của các Khu công nghiệp đối với phát triển kinh tế Chƣơng 2: Thực trạng phát triển các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 3 CHƢƠNG 1 VAI TRÕ CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƢƠNG 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU CÔNG NGHIỆP (KCN) 1. Khái niệm về KCN Khu công nghiệp (KCN) đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. KCN đầu tiên được thành lập ở Anh và vùng Công nghiệp Clearing Chicago (Mỹ) năm 1940; Ý thành lập KCN tại Napoli.
Kể từ đó trở đi, số lượng KCN được hình thành trên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt là ở tại các nước đang phát triển của Châu Á. Hiện nay, trên thế giới có hàng chục nghìn KCN. Theo số liệu của Hội đồng nghiên cứu phát triển quốc tế (IDRC), hiện có khoảng 12.600 KCN rải rác ở 90 quốc gia: 8.200 ở Canada, 300 ở Đức, 200 ở Anh, 130 ở Hà Lan. Mặc dù phát triển sau nhưng các nước Châu Á cũng có số lượng KCN đáng kể.
Số liệu cho thấy Malaixia dẫn đầu với con số 166 KCN, tiếp theo là Hàn Quốc với 147 KCN, Indonexia với 177 KCN, Nhật Bản với 95 KCN,… Tuy đã phát triển một thời gian khá dài nhưng những khái niệm về KCN vẫn được bàn cãi và chưa có kết luận thống nhất. Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO): KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài , chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hóa hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề. Một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất (KCX). Khu chế xuất là khu có một hoặc nhiều doanh nghiệp đăng ký chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được rào cách với khu vực hải quan.
Ở Philippin, theo luật các khu kinh tế đặc biệt 1995, KCN được định nghĩa như sau: “KCN là khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một quy 4 hoạch toàn diện dưới sự quản lý liên tục thống nhất và với các quy định đối với chính sách hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác; có hay không có các nhà xưởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN”. Tại “Sắc lệnh Tổng thống Cộng hòa Indonexia số 98/1993” định nghĩa: KCN là khu vực tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ khác do công ty KCN cung cấp và quản lý. Ở đây, “công ty KCN” là các công ty có tư cách pháp nhân được thành lập theo luật của Indonexia và ở trên lãnh thổ Indonexia với chức năng quản lý KCN. Ở Thái Lan, đạo luật cục KCN năm 1979 định nghĩa: KCN là diện tích được dùng vào sản xuất công nghiệp hoặc các công việc khác có lợi hoặc liên quan đến sản xuất sản phẩm công nghiệp nhằm xuất khẩu.
Khái niệm về KCN ở Việt Nam: Theo quy chế KCN, KCX, Khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ có đưa ra định nghĩa về KCN, KCX, KCNC như sau: - “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Trong KCN có doanh nghiệp chế xuất.” - “KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp chế xuất thực hiện các nghĩa vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập.” - “KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa học công nghệ; đào tạo và các dịch vụ có liên quan; có ranh giới địa lý xác định; không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất.” 5 Qua đó ta thấy 3 khái niệm về KCN, KCX, KCNC trong Nghị định 36/CP có liên quan đến nhau, trong đó khái niệm về KCN là chủ đạo và phổ biến; còn hai khái niệm kia là sự phát triển với những đặc trưng riêng.
Từ việc nghiên cứu những khái niệm trên, tác giả rút ra quan niệm về KCN cụ thể như sau: KCN là một tổ chức không gian kinh tế xã hội rộng lớn và được xác định giới hạn nhất định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kinh tế xã hội) nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư phát triển các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp. Đây sẽ là quan điểm về KCN mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn. Đặc điểm của các KCN KCN và KCX là công cụ để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để tạo ra năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng nhu cầu về hàng hóa của thị trường trong nước và quốc tế. Với cơ cấu được hình thành trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, KCN và KCX bao gồm những đặc điểm chủ yếu sau: KCN có cơ sở kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ ưu đãi về thủ tục xin và thuê đất; miễn hoặc giảm thuế.
Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường. Bởi vậy, cơ chế quản lý trong KCN lấy điều tiết thị trường làm chính. KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn là một vương quốc độc lập như KCX. Do vậy, các chế độ quản lý hành chính, các quyết định liên quan đến việc ra vào KCN và quan hệ với các doanh nghiệp bên ngoài sẽ rộng rãi hơn.
Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo điều kiện bình đẳng. 6 KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn trong nước. Việc hình thành các KCN tạo nên sự thay đổi một cách căn bản về hạ tầng kinh tế - xã hội trong và ngoài KCN, là cơ sở hạ tầng đô thị công nghiệp và thành phố công nghiệp trong tương lai. Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội góp phần tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội cho khu vực có KCN.
Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu trong KCN là những doanh nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước (CNH-HĐH).3 Phân biệt KCN với Khu chế xuất và khu công nghệ cao. KCN và KCX. KCX được thành lập trên cơ sở nước chủ nhà tạo những điều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lý và kỹ thuật hạ tầng trên một địa bàn hạn chế phù hợp với khả năng về tài chính, quản lý để thu hút đầu tư của các nước phát triển đặc biệt là công ty xuyên quốc gia. KCX với tính chất là khu vực chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một nước.
Các tổ chức, các quốc gia trên thế giới có thể có cách hiểu không hoàn toàn giống nhau về KCX, trong đề tài này nêu ba cách thể hiện định nghĩa về KCX như sau: - Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA): Theo điều lệ hoạt động của WEPZA, KCX bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ các nước cho phép như Cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận. Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất KCX với khu vực miễn thuế. - Định nghĩa của Tổ chức phát triển CN Liên hợp quốc (UNIDO): Theo UNIDO, KCX là: khu vực được giới hạn về hành chính, có ranh giới địa lý xác định, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang bị và sản 7 phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Chế độ thuế quan được ban hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.
- Định nghĩa của Việt Nam: Theo quy chế KCN, KCX, KCNC, ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997, KCX là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Như vậy, về cơ bản, KCX ở Việt Nam cũng được hiểu theo như định nghĩa của UNIDO. Từ ba định nghĩa trên, tác giả luận văn thống nhất với định nghĩa KCX của Việt Nam. Xét về bản chất KCX cũng là một loại hình KCN, tuy nhiên giữa hai khái niệm này cũng có một số nét khác biệt.
Phân định những khác biệt giữa KCN và KCX được thể hiện trên Bảng 1.1 Có thể thấy rằng, KCX là một trong những công cụ để tạo ra thể chế thương mại tự do cho các ngành CN chế biến xuất khẩu. Theo các chuyên gia kinh tế, trong thời gian qua ở các nước châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Malaixia, Trung Quốc.