Phần mở đầu, Phần tổng quan, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa các tội phạm về tình dục Chƣơng 2: Thực tiễn phòng ngừa các tội phạm về tình dục ở Việt Nam giai đoạn 2013-2023 Chƣơng 3: Dự báo và biện pháp tăng cƣờng phòng ngừa các tội phạm về tình dục ở Việt Nam 7 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Trên diễn đàn khoa học pháp lý trong nƣớc, có nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề phòng ngừa CTPVTD nói chung hay tội phạm về tình dục đối với trẻ em, hoặc một tội phạm cụ thể trong nhóm, ở một mức độ nhất định các nghiên cứu cũng liên quan trực tiếp đến phạm vi của đề tài. Nhóm công trình nghiên cứu có liên quan đến lý luận về phòng ngừa các tội phạm về tình dục Lý luận phòng ngừa CTPVTD cũng dựa trên nền tảng lý luận phòng ngừa tội phạm nói chung. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã tiếp cận vấn đề lý luận về phòng ngừa các tội phạm này dựa trên lý thuyết về phòng ngừa tội phạm – một vấn đề lý luận cơ bản và quan trọng của Tội phạm học.
Đây là nội dung đƣợc nhấn mạnh trong giáo trình Tội phạm học của các cơ sở đào tạo luật và nhiều công trình nghiên cứu ở nƣớc ta8. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều tƣơng đối thống nhất với việc nhận định về lý thuyết phòng ngừa tội phạm: Thứ nhất, về khái niệm và ý nghĩa: Bản chất của phòng ngừa tội phạm là việc áp dụng tổng thể các biện pháp nhằm hạn chế, ngăn ngừa sự hình thành các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm hoặc làm cho các thành tố này không phát huy đƣợc tác dụng để loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm, ngăn ngừa tội phạm xảy ra. Ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm đƣợc thể hiện trên nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ kinh tế, văn hóa, xã hội. 8 Giáo trình của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, NX Tƣ pháp, 2022; Giáo trình Tội phạm học (Dành cho đào tạo trình độ đại học) của Học viện An ninh nhân dân, 2022; Giáo trình của Trƣờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức, 2013; Giáo trình Tội phạm học của Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, NXB Công an nhân dân, 2008 do GS.
Võ Khánh Vinh (Chủ biên); Sách chuyên khảo: “Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, NX chính trị Quốc gia, 1994, GS. Đào Trí Úc (Chủ biên); Đề tài KX.14 do Bộ Nội vụ, Tổng cục cảnh sát Nhân dân về: “Tội phạm ở Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 1994; “Tội phạm học Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Công an nhân dân, 2000 của GS. Võ Khánh Vinh, GS. Đào Trí Úc, Nguyễn Mạnh Kháng (Biên soạn); “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, 2001 của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm; “Tội phạm và cấu thành tội phạm”, NXB Công an nhân dân, 2015 của GS.
Nguyễn Ngọc Hoà và “Tội phạm học đương đại”, NX Tƣ pháp, 2019 của PGS. Dƣơng Tuyết Miên. Các bài báo: “Phòng ngừa tội phạm trong Tội phạm học”, Tạp chí Luật học, số 6, 2007 của GS. Nguyễn Ngọc Hòa; “Phòng ngừa tình hình tội phạm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5, 2008 của PGS.
Dƣơng Tuyết Miên; “Khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ Tội phạm học”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật, số 24, 2008 của PGS. Trịnh Tiến Việt. 8 Thứ hai, các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm đƣợc thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc nhƣ: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc nhân đạo và các nguyên tắc khác nhƣ đảm bảo sự phối hợp giữa các chủ thể, nguyên tắc khoa học tiến bộ. Thứ ba, mục đích của phòng ngừa tội phạm là hƣớng đến việc ngăn ngừa, hạn chế tội phạm, không làm cho tội phạm xảy ra, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hậu quả do hành vi phạm tội gây ra cũng nhƣ đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, hƣớng đến sự phát triển bền vững.
Thứ tƣ, khi đề cập đến nội dung phòng ngừa tội phạm có quan điểm cho rằng cần hƣớng đến con ngƣời đã hoặc có nguy cơ phạm tội, hƣớng tới ngƣời hoặc tổ chức có khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm và hƣớng tới khả năng phát sinh “tình huống tiệu cực”9. Cũng có quan điểm khẳng định nhiều hƣớng khác nhau khi phòng ngừa nhƣ phát triển xã hội, xây dựng quy hoạch, tăng cƣờng vai trò và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, phát huy vai trò của cá nhân, hoàn thiện pháp luật10. Nhìn chung, nội dung phòng ngừa phải giải quyết đƣợc vấn đề nguyên nhân của tội phạm, khắc phục đƣợc những tồn tại, hạn chế trong hoạt động phòng ngừa tội phạm, đồng thời gắn liền với các biện pháp phòng ngừa. Thứ năm, biện pháp phòng ngừa có thể đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: Nếu theo nội dung có thể phân chia thành các biện pháp kinh tế - xã hội; biện pháp văn hóa, giáo dục; biện pháp tổ chức và quản lý; biện pháp pháp luật.
Nếu theo phạm vi có thể phân chia thành biện pháp phòng ngừa vi mô và biện pháp phòng ngừa vĩ mô. Nếu theo đối tƣợng có thể phân chia thành biện pháp phòng ngừa chung, biện pháp phòng ngừa theo nhóm tội; biện pháp phòng ngừa theo chủ thể, hoặc biện pháp phòng ngừa theo tội danh cụ thể. Thứ sáu, chủ thể phòng ngừa tội phạm gắn liền với biện pháp phòng ngừa do đó, chủ thể cũng đƣợc xác định và phân biệt theo nhiều nhóm khác nhau, có thể là những chủ thể có trách nhiệm thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc, các chủ thể có trách nhiệm trong hoạt động đấu tranh chống tội phạm, các chủ thể có trách nhiệm trong hoạt động kiểm tra, giám sát, phát hiện vi phạm và tội 9 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Tội phạm học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 10 Dƣơng Tuyết Miên (2013), Tội phạm học đương đại, NXB Chính trị Hành chính, Hà Nội, tr.
Có thể là những chủ thể thực hiện vai trò của tƣ pháp hình sự, chủ thể thực hiện vai trò lập pháp, chủ thể quản lý nhà nƣớc, tổ chức và công dân12. Ở nƣớc ta, chủ thể phòng ngừa tội phạm thƣờng đƣợc xác định là các tổ chức Đảng, các chủ thể quản lý quyền lực nhà nƣớc và vai trò đặc biệt của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các tổ chức và công dân. Hay nói cách khác, chủ thể phòng ngừa tội phạm là mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội. Trong các nghiên cứu lý luận về phòng ngừa tội phạm còn chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa “phòng ngừa tội phạm” và “đấu tranh chống tội phạm”.
Có quan điểm cho rằng phòng ngừa tội phạm rộng hơn đấu tranh chống tội phạm, và ngƣợc lại cũng có quan điểm cho rằng đấu tranh chống tội phạm bao hàm phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, dƣới góc độ Tội phạm học, chống tội phạm là một biện pháp phòng ngừa tội phạm đặc biệt. Chính vì vậy, đa số các tài liệu ở nƣớc ta khi nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm thƣờng sẽ sử dụng số liệu từ các cơ quan thực hiện hoạt động chống tội phạm và tập trung vào nhóm chủ thể này khi đánh giá thực trạng phòng ngừa tội phạm. Bên cạnh các công trình tiếp cận lý thuyết chung về phòng ngừa tội phạm, trong các công trình nghiên cứu liên quan đến phòng ngừa nhóm tội phạm cũng đề cập ở những mức độ khác nhau về khái niệm phòng ngừa các tội phạm đó.
Cụ thể: Luận án: “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn miền Tây Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa” của TS. Diệp Huyền Thảo bảo vệ năm 2020 tại Học viện Khoa học xã hội đã kế thừa khái niệm về phòng ngừa tội phạm theo quan điểm của GS. Võ Khánh Vinh và xác định: “Việc phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội, và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em hoặc làm vô hiệu hóa (là yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần kiểm soát tình hình tội phạm”13. Tuy nhiên, cách diễn đạt của tác giả về khái niệm phòng ngừa tội phạm khi sử dụng từ “việc” cũng nhƣ đƣa ra một khái niệm mới là “kiểm soát” trong “phòng ngừa” sẽ gây khó hiểu và trừu tƣợng hơn khi tiếp cận.
11 Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2022), tlđd, tr. 12 Dƣơng Tuyết Miên (2013), Tội phạm học đương đại, NXB Chính trị Hành chính, Hà Nội, tr. 13 Diệp Huyền Thảo (2020), tlđd, tr. 10 Luận án: “Phòng ngừa các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” bảo vệ năm 2021 của TS.
Lê Văn Lƣơng tại Học viện Khoa học xã hội cũng đã xây dựng khung lý thuyết cơ bản về phòng ngừa tội phạm tình dục đối với nạn nhân là trẻ em. Trong đó, tác giả xác định khái niệm phòng ngừa nhóm tội phạm này dựa trên quy định của quốc tế trong Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 và chủ trƣơng, chính sách của nhà nƣớc ta về việc tăng cƣờng bảo vệ trẻ em, đặc biệt là quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng nhƣ thực trạng hoạt động phòng ngừa các tội xâm phạm tình dục trẻ em ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây trên cơ sở tiếp thu lý thuyết về phòng ngừa tội phạm nói chung: Về khái niệm, tác giả kế thừa quan điểm về phòng ngừa tội phạm trong Giáo trình Tội phạm học của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội và khẳng định: “Phòng ngừa các tội xâm phạm tình dục trẻ em là hoạt động có tính chủ động và tổng hợp của Nhà nước, xã hội và mọi công dân hướng tới việc hạn chế, ngăn ngừa sự hình thành các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm hoặc làm cho các thành tố này không phát huy được tác dụng để loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm, ngăn ngừa tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em xảy ra”14.