Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không Chương 3: Phân tích thực trạng của việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quá trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không của Công ty TNHH Thương mại và Giao nhận HCVINA. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất với vấn đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không tại Công ty TNHH Thương mại và Giao nhận HCVINA. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 2.
Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm giao nhận hàng hóa Theo luật Thương mại 1997, giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. Có thể nói giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng), trong đó người giao nhận ký hợp đồng với chủ hàng, đồng thời cũng ký hợp đồng đối ứng với người vận tải để thực hiện dịch vụ. Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác.2 Khái niệm về rủi ro Rủi ro là một trong những khái niệm tuy được đề cập, nghiên cứu và áp dụng nhiều trên thực tế nhưng nó được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, trường phái, quan điểm khác nhau dẫn tới cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong việc định nghĩa thế nào là rủi ro và hiện phân chia thành 02 nhóm trường phái, quan điểm là truyền thống và hiện đại. Theo quan điểm truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm, là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến, là những bất trắc ngoài ý muốn.
Như vậy, quan điểm này cho rằng rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro lại được xem là sự bất trắc có thể đo lường được, nó mang cả tính tích cực và tính tiêu cực vì rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát nhưng cũng có thể đem lại những lợi ích, cơ hội nhất định. Do đó, nếu hiểu được 6 rủi ro thì người ta có thể tìm được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực cũng như có thể đón nhận những cơ hội, lợi ích tích cực mà nó đem lại. Khái niệm về tổn thất “Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản, cơ hội mất hưởng về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra” (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế).
Tổn thất có thể là hữu hình (tổn thất tài sản, con người, sức khỏe) và cũng có thể là vô hình (tinh thần, đe dọa sự nghiệp,. Tổn thất vô hình hoàn toàn có thể đo lường và quy đổi ra thành tiền, và trong không ít các trường hợp tổn thất vô hình còn lớn hơn cả tổn thất hữu hình. Trong hoạt động thương mại quốc tế, thường người ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình. Rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau cùng phản ánh một sự kiện không may xảy ra, nhưng có mối quan hệ nhân quả, theo đó rủi ro là nguyên nhân còn tổn thất là hậu quả.
Rủi ro phản ánh về mặt chất của sự kiện, bao gồm nguyên nhân, mức độ tính chất nguy hiểm còn tổn thất phản ánh về mặt lượng của sự kiện bao gồm mức độ thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần có nguyên nhân từ rủi ro gây ra, qua đó thấy được mức độ nghiêm trọng của sự kiện.4 Hạn chế rủi ro Trong thực tế chưa có nhà nghiên cứu rủi ro nào đề cập đến khái niệm về hạn chế rủi ro. Tuy nhiên, ta có thể hiểu hạn chế rủi ro là việc thực hiện các hoạt động kiểm soát và tài trợ rủi ro của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tối đa những tổn thất mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh.5 Phòng ngừa rủi ro Theo IDB phòng ngừa rủi ro là ’’Các biện pháp và hành động được thực hiện trước để ngăn chặn những rủi ro mới hoặc cản trở sự phát triển và tăng cường của chúng.6 Phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không Phòng ngừa rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không là sử dụng các biện pháp mang tính kỹ thuật tổ chức nhằm ngăn chặn, né tránh rủi ro tổn thất xảy ra trong quá trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không. 7 Tuy chưa có khái niệm về hạn chế rủi ro, nhưng ta có thể hiểu hạn chế rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là việc thực hiện các hoạt động kiểm soát và tài trợ rủi ro của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tối đa những tổn thất mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không.2 Một số lý thuyết của phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không 2.1 Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không tại doanh nghiệp logistics 2.1 Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng Khách hàng có thể là các nhà xuất nhập khẩu trong nước uỷ thác cho công ty giao nhận tiến hành nhận lô hàng xuất nhập khẩu. Hoặc khách hàng là những công ty giao nhận, hàng tàu ở nước ngoài làm hợp đồng đại lý với công ty giao nhận trong nước, yêu cầu theo dõi lô hàng xuất nhập khẩu và tiến hành các thủ tục cho người giao nhận hàng thực tế.
Nhân viên kinh doanh sẽ tiếp nhận các thông tin chi tiết hàng hóa, sau đó tiến hành báo giá cho lô hàng xuất nhập của khách hàng.2 Nhận và kiểm tra bộ chứng từ - Kiểm tra kỹ thông tin trên từng chứng từ + Hợp đồng mua bán thì cần kiểm tra số, ngày ký hợp đồng, thông tin hàng hóa, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán. + Hóa đơn thương mại: kiểm tra số, ngày lập, đơn giá, giá trị lô hàng, điều kiện giao hàng + Chi tiết đóng gói (Packing list): Kiểm tra trọng lượng, thể tích, số lượng, cách đóng gói + Vận đơn (Air Waybill): Kiểm tra số, ngày và nơi phát hành, số chuyến bay, trọng lượng, thể tích. + Giấy chứng nhận xuất xứ (nếu có) thì cần kiểm tra kỹ nếu có CO có ưu đãi đặc biệt thuộc form D, E thì được hưởng ưu đãi về thuế. - Kiểm tra chéo số liệu giữa các chứng từ trên với nhau chẳng hạn đơn giá trong hợp đồng và hóa đơn thương mại hay tên hàng, số lượng, đơn giá, giá trị lô hàng giữa hợp 8 đồng, packing list, vận đơn.
Nếu các số liệu khớp nhau thì bộ chứng từ được coi là hoàn chỉnh, còn nếu các số liệu không khớp nhau thì cần liên lạc với khách hàng để bổ sung chỉnh sửa. - Ngoài ra cần kiểm tra mã HS xem có chính xác với hàng hóa trong hợp đồng đã ký hay không. Nếu là khách hàng mới thì cần tìm hiểu đầy đủ các thông tin về tên hàng, tính chất, chất lượng, loại hàng, công dụng của hàng hóa để xác định được mã HS và mô tả hàng hóa chính xác. Còn nếu là khách hàng cũ thì nên kiểm tra lại mã HS xem còn phù hợp hay không.
Tổ chức giao nhận hàng xuất nhập khẩu Cho dù khách hàng là nhà xuất nhập khẩu trong nước hay là các công ty giao nhận quốc tế thì công ty giao nhận vẫn phải thực hiện một số công việc sau: - Hoàn thành bộ chứng từ để giao nhận hàng xuất nhập khẩu; - Khai thủ tục hải quan, tiến hành thông quan cho lô hàng xuất nhập khẩu; - Với hàng nhập khẩu, lấy hàng tại địa điểm quy định trong hợp đồng, rồi sau đó vận chuyển đến kho. - Giao nhận hàng tại kho - Với hàng nhập khẩu lấy hàng tại kho và vận chuyển đến địa điểm quy định trong hợp đồng. ● Giao hàng xuất khẩu +Tiến hành nhận hàng Nhân viên của công ty giao nhận có thể nhận hàng và kiểm hàng tại kho của khách hàng hoặc của công ty, tùy theo khả năng đáp ứng các kho của công ty giao nhận và điều kiện của khách hàng. Tùy theo số lượng và kiểu cách hàng hóa mà công ty giao nhận đã lên phương án vận chuyển bằng các phương tiện thích hợp.
Nhân viên giao nhận hoặc vận tải sau đó điều xe về kho của khách hàng hoặc kho của công ty giao nhận để xếp hàng. +Tiến hành giao hàng Nhân viên giao nhận sẽ vận chuyển hàng đến kho và làm thủ tục để kéo hàng vào kho. ● Nhận hàng nhập khẩu 9 Đối với trường hợp khách hàng yêu cầu công ty giao nhận tiếp vận thay mặt mình nhận hàng thì công ty giao nhận tiếp vận sẽ nhận giấy giới thiệu từ khách hàng, sau đó đến kho để nhận hàng và giao lại cho khách hàng. Khi hàng hóa đi qua chuyển phát nhanh, thông thường công ty giao nhận sau khi làm thủ tục Hải Quan chỉ phải báo phát hàng cho khách hàng 2.
Giao hàng cho khách hàng Sau khi tổ chức nhận hàng nhập khẩu xong, công ty giao nhận tiến hành vận chuyển hàng hóa đến địa điểm quy định trong hợp đồng để giao hàng cho khách hàng. Quyết toán chi phí - Công ty giao nhận thanh toán với người chuyên chở cũng như các nhà cung ứng các dịch vụ liên quan trong quá trình giao nhận, lập phiếu thu (Debit Note ) và gửi cho khách hàng. - Đối với nhận hàng nhập khẩu, theo dõi kết quả nhận hàng của người nhận, giải quyết khiếu nại về hàng hoá.