Chương I : Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương II : Một số vấn đề lý luận cơ bản về thanh toán theo phươngthứcTDCT và rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT Chương III: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng rủi ro trong thanh toán XK mây tre đan theo phương thức TDCT tại công ty cổ phần XNK Hà Tây Chương IV: Các kết luận và đề xuất về vấn đề phòng ngừa rủi ro trong thanh toán xuất khẩu hàng mây tre đan theo phương thức TDCT tại công ty cổ phần XNK Hà Tây. Luan van CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC TDCT VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TDCT 2. Một số lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế 2. Thanh toán quốc tế và vai trò của thanh toán quốc tế 2.
Khái niệm Quan hệ đối ngoại của các quốc gia bao gồm tổng thể các lĩnh vực: kinh tế chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch… trong đó có quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các mối quan hệ khác tồn tại và phát triển. Quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau mà ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên từ đó hình thành và phát triển phát hoạt động thanh toán quốc tế. Từ phân tích trên ta đi đến khái niệm: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ của các ngân hàng của các nước liên quan. Vai trò của thanh toán quốc tế Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước.
Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích lũy trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp giữa sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò hoạt động của TTQT ngày càng được khẳng định. TTQT là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân. TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau.
TTQT góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy hanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động TTQT được tiến hành nhanh Luan van chóng, an toàn sẽ khiến hoạt động lưu thông hàng hóa tiền tệ giữa người mua, người bán diễn ra trôi chảy, an toàn hơn. TTQT làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Bên cạnh đó, hoạt động TTQT làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam.
Thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT 2. Khái niệm phương thức thanh toán TDCT Theo UCP 600 (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” phiên bản số 600 do Phòng Thương mại quốc tế ban hành) : “Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C, theo đó ngân hàng phát hành (NHPH) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình tại ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng. Các chủ thể tham gia trong phương thức TDCT - Người mở thư tín dụng (applicant for Credit): là người mua, người nhập khẩu hàng hóa - Ngân hàng phát hành thư tín dụng ( Issusing Bank): là ngân hàng thực hiện phát hành L/C (Letter of Credit) theo yêu cầu của người mở, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho người mở. Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thỏa thuận và qui định trong hợp đồng mua bán.
Nếu không có sự thỏa thuận trước thì ngân hàng phát hành sẽ do bên nhập khẩu chọn. - Người thụ hưởng (Benificialy): Là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào được chỉ định. - Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là ngân hàng ở nước người hưởng lợi 2. Qui trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức TDCT Luan van Sơ đồ 2.1: Qui trình nghiệp vụ TTQT theo phương thức TDCT (5) NHPH (2) NHTB (8) (7) (6) (1) (2) (3) (5) Người xin mở L/C (4) Người thụ hưởng ( Nhà nhập khẩu) ( Nhà xuất khẩu) Bước 1: Trên cơ sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương nhà nhập khẩu (NK) làm đơn theo mẫu gửi đên ngân hàng phục vụ mình yêu cầu phát hành một L/C cho người xuất khẩu (XK) hưởng.
Bước 2: Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý NHPH lập L/C và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước nhà XK để thông báo về việc phát hành L/C và chuyển L/C đến người XK. Bước 3: NHTB sẽ chuyển L/C bản gốc tới cho nhà NK. Bước 4: Nhà NK nếu chập nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề nghị người NK thông qua NHPH sửa đổi bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương. Bước 5: Sau khi giao hàng, nhà XK phải hoàn tất bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C và xuất trình đúng thời hạn quy định (thông qua một ngân hàng khác) cho NHPH để thanh toán.
Bước 6: NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C do mình phát hành thì tiến hành thanh toán cho nhà XK, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại bộ chứng từ cho người XK. Bước 7: NHPH đòi tiền nhà NK. Bước 8: Nhà NK kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho ngân hàng, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền cho ngân hàng. Thư tín dụng Luan van Khái niệm: Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khẩu (người xin mở thư tín dụng), cam kết trả tiền cho người xuất khẩu (người thụ hưởng) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định, với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản qui định trong thư tín dụng.
Nội dung thư tín dụng: Một L/C thường bao gồm những điều khoản sau đây: - Số hiệu L/C ( Credit of number) - Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức TDCT. - Số tiền của L/C: Số tiền của L/C phải được ghi bằng chữ và ghi bằng số, phải thống nhất với nhau đồng thời tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng. - Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng: Thời hạn hiệu lực: Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những điều kiện ghi trong L/C. Thời hạn L/C tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực.
Thời hạn trả tiền: Là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định hợp đồng. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn của L/C. Thời hạn giao hàng: Được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định. Thời gian giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C - Những nội dung liên quan đến hàng hóa như: tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, kí mã hiệu… - Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa như: điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR…), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và giao hàng… - Bộ chứng từ mà người nhà xuất khẩu phải xuất trình.
Nội dung quy định chứng từ bao gồm: Số loại chứng từ, số lượng mỗi loại, bản chính hay bản sao, người phát hành… - Sự cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng. - Những điều khoản đặc biệt khác. Luan van - Chữ ký của ngân hàng phát hành. Các loại thư tín dụng - Theo loại hình sử dụng: L/C có thể hủy ngang L/C không thể hủy ngang - Theo phương thức sử dụng: L/C hủy ngang giá trị trực tiếp L/C không hủy ngang miễn truy đổi L/C không hủy ngang và có xác nhận L/C tuần hoàn L/C với diều kiện đỏ L/C dự phòng L/C chuyển nhượng L/C giáp lưng L/C đối ứng 2.
Đặc điểm của phương thức thanh toán TDCT - Là hợp đồng kinh tế hai bên: nhiều người lầm tưởng rằng L/C là hợp đồng kinh tế 3 bên gồm: người yêu cầu, NHPH và người thụ hưởng. Thực tế, LC là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và ngườ thụ hưởng. Mọi yêu cầu và chỉ thị của người yêu cầu mở L/C đã do NHPH đại diện, do đó tiếng nói chính thức của người xin mở L/C không được thể hiện trong L/C - L/C độc lập với hợp đồng và cơ sở hàng hóa: LC được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng về bản chất, sau khi được thiết lập nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung LC có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến L/C.