Chương 1: Khủng hoảng tài chính - tiền tệ và vai trò của IMF Chương 2: Phối hợp chính sách giữa các chính phủ châu Á với IMF trong việc khắc phục khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997-1998 Chương 3: Một số bài học về ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ VÀ VAI TRÒ CỦA IMF 1.1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ 1.1 Nhận dạng bản chất khủng hoảng tài chính - tiền tệ Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khủng hoảng tài chính tại các nước tiền công nghiệp thường do chiến tranh, thiên tai hay sự mất giá của đồng tiền gây ra. Cùng với sự phát triển của hoạt động ngân hàng và thị trường chứng khoán trong thế kỷ XIX, tính ổn định của hệ thống tài chính phụ thuộc vào sự lành mạnh của các định chế tài chính. Các khoản cho vay có quy mô lớn hơn, phức tạp và dài hạn hơn làm tăng mức độ rủi ro và do đó dễ dẫn tới khủng hoảng tài chính khi các định chế tài chính mất khả năng thanh toán. Tiến trình phát triển của thế giới đã từng chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng ngân hàng và tỷ giá.
Chẳng hạn, cuộc khủng hoảng điển hình của thế giới tư bản là cuộc đại khủng hoảng 1929 - 1933 đã phá huỷ hệ thống ngân hàng Mỹ và làm phá sản hàng loạt ngân hàng châu Âu; cuộc khủng hoảng đồng Sterling và Franc những năm 1960; sự đổ vỡ của hệ thống Bretton Woods đầu thập niên 1970 và cuộc khủng hoảng nợ những năm 1980. Thời kỳ trước nữa cũng xuất hiện những cuộc khủng hoảng tài chính, đặc biệt là khủng hoảng ngân hàng. Hai ví dụ đáng ghi nhận là cuộc khủng hoảng ngân hàng Barings năm 1890 và cuộc khủng hoảng tỷ giá (1894-1896) ở Mỹ được xem như một đòn nặng nề giáng vào uy lực bản vị vàng của nước này và là một ví dụ cho tính hiệu quả của việc vay nợ nhà nước từ các nguồn dự trữ quốc gia để chặn đứng khủng hoảng tiền tệ. Rõ ràng, trong việc đối phó với các cuộc khủng hoảng khác nhau, các thể chế tài chính hiện đại và những biện pháp chức năng cho vay như giải pháp cứu cánh cuối cùng của các Ngân hàng Trung ương, bảo hiểm tiền gửi, các tiêu chuẩn điều tiết thận trọng, và các thoả thuận tài chính quốc tế, đặc biệt là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đã được thiết lập và phát triển.
6 Trong vòng 20 năm gần đây đã xảy ra hơn 90 cuộc khủng hoảng ngân hàng nghiêm trọng mà tổn thất của mỗi cuộc khủng hoảng tính trên GDP còn vượt quá tổn thất của sự đổ vỡ ngân hàng Mỹ trong những năm 30 của thế kỷ XX. Mặc dù có những điểm giống nhau, nhưng các cuộc khủng hoảng những năm vừa qua khác với các cuộc khủng hoảng trước đây ở những khía cạnh quan trọng. Đặc biệt, những tác động quá mức và khả năng lây lan của khủng hoảng dường như rất lớn và vượt quá khả năng kiểm soát. Theo các nhà phân tích, khủng hoảng tài chính - tiền tệ những năm gần đây còn sâu sắc hơn nhiều các cuộc khủng hoảng thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ XX, thể hiện trên các mặt: - Quy mô lớn hơn nhiều (tính theo giá năm 2000, quy mô GDP toàn cầu năm 1970 tăng gấp 7,4 lần so với năm 1900, năm 2000 tăng gấp 2,5 lần so với năm 1970, trong đó hoạt động tài chính - tiền tệ phát triển với tốc độ như vũ bão1); - Tốc độ lan truyền nhanh hơn (những năm đầu thế kỷ XX, giao dịch tài chính ngân hàng trong phạm vi một thành phố cũng phải mất tới 3 ngày, đến nay có thể thực hiện trong “chớp mắt” và hàng loạt giao dịch cùng một lúc trên phạm vi toàn cầu nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin); - Xảy ra thường xuất phát từ sai lầm của khu vực tư nhân nhiều hơn do lỗi chi tiêu của Chính phủ (do khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, nhiều tập đoàn kinh tế có quy mô lớn gấp nhiều lần GDP của một quốc gia, bên cạnh đó, tự do hoá và toàn cầu hoá cho phép khu vực tư nhân dễ dàng vượt qua sự kiểm soát của Chính phủ hơn); - Khó dự đoán trước hơn.
Dự báo kinh tế - tài chính vốn đã khó lại càng khó hơn do các biến số ngày càng đa dạng về số lượng và phức tạp về tính chất, đến mức nhiều người coi dự báo là một nghệ thuật hơn là một khoa học. 1 Năm 2000, trao đổi ngoại tệ toàn cầu lên tới gần 2000 tỷ USD, gấp 1000 lần năm 1973; tổng tài sản tài chính trao đổi trên thị trường thế giới lên tới 83.000 tỷ USD, tương đương 170% GDP toàn cầu; hàng ngày, lượng tiền luân chuyển trên thị trường tài chính gấp 30 lần tổng giá trị hàng hoá lưu chuyển. 7 Tóm lại, khủng hoảng tài chính - tiền tệ có một lịch sử khá dài gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống tài chính trong nền kinh tế thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, khủng hoảng tài chính là hiện tượng xảy ra trong hoạt động của các định chế tài chính (chủ yếu là các trung gian tài chính), bắt nguồn từ sự yếu kém của các định chế này và tác động trực tiếp đến hoạt động của chúng với tư cách là một chủ thể vừa độc lập, vừa có liên quan chặt chẽ với toàn bộ hệ thống.
Biểu hiện rõ rệt nhất của khủng hoảng tài chính - tiền tệ từ trước đến nay là sự phá sản của các định chế trung gian tài chính và cùng với sự phát triển ngày càng phức tạp và tinh vi của các công cụ tài chính, thì khủng hoảng càng dễ xảy ra, tính chất khủng hoảng ngày càng phức tạp và nguy cơ khủng hoảng lan rộng ngày càng cao. Vậy bản chất khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong thời đại hiện nay là gì? Trước hết tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là sự luân chuyển luồng (dòng) vốn (tiền và giống như tiền); là tập hợp các quỹ tiền (và giống như tiền) cùng với các mối quan hệ giữa chúng. Tiền (money, currency) bao gồm cả nội tệ (domestic currency) và ngoại tệ (foreign currency) với 3 chức năng chủ yếu là thước đo giá trị, phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ. Giống như tiền (semi-money) được hiểu là những vật có đầy đủ 3 chức năng chủ yếu của tiền, đồng thời có khả năng chuyển thành tiền dễ dàng (tức là có tính thanh khoản nhất định), chẳng hạn vàng, kim loại hiếm, đá quý, giấy tờ có giá ngắn hạn (trong chừng mực nhất định có thể gồm cả giấy tờ có giá trung và dài hạn).
Không thuộc phạm trù này là những vật không có đầy đủ 3 chức năng chủ yếu của tiền tệ, hay có tính thanh khoản thấp như đất đai, nguyên nhiên vật liệu cho các ngành công nghiệp và nông nghiệp, v.v… Vậy khủng hoảng tài chính (Financial Crisis) là gì? Khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính (quỹ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Đặc trưng của mỗi quỹ (fund) cấu thành nên hệ thống tài chính là các dòng tiền vào/ ra (input/output), nhận/ thanh toán (receipt/payments), hình thành tài sản có (assets)/ tài sản nợ (liabilities). Khi xảy ra hiện tượng 8 mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh toán về số lượng, thời hạn, chủng loại tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài chính. Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó.
Chính vì vậy, khủng hoảng tài chính có đặc điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong nền kinh tế thị trường từ nhiều năm nay. Một số dạng khủng hoảng tài chính đặc thù: - Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis): là tình trạng ngân hàng trên thực tế hoặc có khả năng đổ vỡ, hay các vụ phá sản buộc các ngân hàng phải hoãn các khoản thanh toán thuộc trách nhiệm của mình, hoặc ngân hàng ở trong tình trạng buộc chính phủ phải can thiệp bằng cách trợ giúp những khoản tài chính lớn. Cuộc khủng hoảng ngân hàng tác động trên diện rộng, tới nhiều bộ phận của hệ thống kinh tế. Khủng hoảng này rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi của các thể nhân và pháp nhân để cho vay lại nên rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại tiền.
Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại được, dẫn đến tỷ lệ quá hạn cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn. Ngân hàng là một hệ thống chặt chẽ nên khủng hoảng rất dễ lây lan và tạo ra khủng hoảng cả hệ thống ngân hàng. Trong trường hợp khủng hoảng ngân hàng, các ngân hàng thương mại (NHTM) thường có xu hướng siết chặt các điều kiện tín dụng hay nâng lãi suất để bù đắp rủi ro và kết quả là đẩy các doanh nghiệp - bạn hàng chủ yếu của ngân hàng vào tình thế khó khăn do thiếu nguồn tài chính để hoạt động. - Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis): là trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài (vay chính thức hoặc vay thương mại) quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên không trả được nợ đúng hạn, kể cả nợ chính 9 phủ lẫn nợ tư nhân, do đó lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xoá nợ, thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ.
Khủng hoảng nợ xảy ra khá nhiều (chẳng hạn trường hợp Argentina mới đây hay các nhiều nước châu Phi vừa qua) cùng với tiến trình toàn cầu hoá kinh tế do các điều kiện vay nợ nước ngoài trở nên dễ dàng hơn. - Khủng hoảng tiền tệ (Money Crisis): là hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu (cả thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng. - Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market). Với tư cách là đỉnh cao của kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán rất nhạy cảm và phức tạp nên cũng rất dễ đổ vỡ.