Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CỦA SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 1. Khái quát phổ biến pháp luật phòng, chống tệ nạn xã hội của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội 1. Khái niệm, đặc điểm phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hiện nay, khái niệm phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội chưa được thống nhất chung về mặt thuật ngữ pháp lý. Do đó, việc tiếp cận khái niệm phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội một cách đúng đắn sẽ giúp cho chúng ta khái quát và nhận thức chung nhất về hình thức, nội dung, phương pháp, phương án thực hiện phổ biến pháp luật phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế - xã hội của Đất nước.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì phổ biến được hiểu là “làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt rộng khắp, trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến” [28, tr. Từ khái niệm này, chúng ta có thể thấy phổ biến pháp luật là một hoạt động bao quát, vận động, truyền đạt nhằm giáo dục, tác động, định hướng đến đông đảo người dân về một hoặc nhiều vấn đề thông qua các hình thức phổ biến đa dạng làm cho mọi người biết đến một hoặc nhiều vấn đề đó. Theo Từ điển Tiếng Việt thì pháp luật là “tổng hợp những quy phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” [28, tr. Pháp luật được hiểu là những quy tắc xử sự chung nhất do Nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước, có phạm vi bao quát trong toàn bộ phạm vi lãnh thổ và những phạm vi khác theo quy định.
Từ các khái niệm phổ biến và khái niệm pháp luật được nghiên cứu bên trên có thể khái quát: Phổ biến pháp luật là hoạt động vận động tuyên truyền, giáo dục 9 pháp luật do chủ thể có thẩm quyền tiến hành nhằm tác động đến đối tượng được phổ biến pháp luật, giúp hình thành trong họ tri thức pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, tình cảm pháp lý từ đó có cách xử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật. Theo điểm d, Khoản 3, Điều 2 Thông tư số 11/2021/TT-BLĐTBXH ngày 30/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (sau đây gọi tắt là Thông tư số 11) thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ tuyên truyền, PBGDPL về phòng, chống tệ nạn xã hội [1]. Tệ nạn xã hội được hiểu là những phản ảnh bên ngoài và được biểu hiện cụ thể qua hành vi coi thường các chuẩn mực đạo đức, xã hội và pháp luật, làm tha hóa các giá trị tốt đẹp của văn hoá, thuần phong mỹ tục, hình thành lối sống vô kỷ luật, vô tổ chức, bao gồm các loại tệ nạn: ma tuý, mại dâm, đánh bạc, mua bán người, mê tín dị đoan. Theo đó, phòng, chống tệ nạn xã hội là hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, bài trừ các loại tệ nạn xã hội ra khỏi đời sống của người dân và xã hội, hướng đến các chuẩn mực đạo đức và giá trị tốt đẹp cho xã hội.
Tóm lại, thông qua nghiên cứu một số khái niệm có liên quan đến khoa học pháp lý về phổ biến pháp luật và pháp luật phòng, chống tệ nạn xã hội của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, có thể hiểu: Phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội là hoạt động truyền tải thông tin về pháp luật phòng, chống tệ nạn xã hội trên nhiều hình thức do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tiến hành nhằm tác động đến đối tượng được phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội, giúp họ nắm được các quy định, chính sách của Nhà nước và hình thành trong họ tri thức pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, tình cảm pháp lý, từ đó có những cách xử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội. Từ những phân tích trên có thể thấy phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội là một dạng cụ thể của PBGDPL nói chung, có một số đặc điểm như sau: 10 Thứ nhất, phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội là hoạt động có mục đích và có tính định hướng, nhằm hình thành ở đối tượng phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội những tri thức hiểu biết về pháp luật phòng, chống tệ nạn cũng như thói quen xử sự phù hợp với quy định pháp luật về phòng, chống tệ nạn. Thông qua phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội giúp các chủ thể nhận thức đầy đủ, đúng đắn, tích cực và toàn diện về những giá trị của chuẩn mực đạo đức và xã hội, những hành vi được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm và được phép tự do thực hiện trong khuôn khổ pháp luật; giới hạn các quyền, nghĩa vụ của mình và của các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ; cơ chế để tổ chức thực thi các quyền và nghĩa vụ, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp. Thứ hai, phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội là công cụ nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể theo những chuẩn mực mà pháp luật phòng, chống tệ nạn đặt ra.
Thông qua hiểu biết pháp luật, các chủ thể biết tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc, đòi hỏi, yêu cầu của pháp luật về phòng, chống tệ nạn. Sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể càng sâu sắc, càng đầy đủ, chính xác thì tính hợp pháp trong hành động của họ càng được bảo đảm và hạn chế được các hành vi vi phạm pháp luật do không hiểu biết pháp luật. Thông qua phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội còn giúp các chủ thể định hướng hành vi đúng đắn phù hợp với pháp luật phòng, chống tệ nạn, biết sử dụng tri thức pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từng bước xây dựng và hình thành thói quen suy nghĩ và hành động hợp pháp và cao hơn là xây dựng lối sống văn hóa pháp luật. Thứ ba, phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội là hoạt động mang tính tổ chức cao, đó là sự tác động của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội lên đối tượng phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội theo những quy tắc, nguyên tắc, yêu cầu cụ thể, với những nội dung, hình thức, phương pháp nhất định phù hợp với đặc thù của đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu mà chủ thể đề ra.
Trong quá trình hoạt động có tổ chức đó, trách nhiệm trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan nhà nước; Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức thực hiện 11 và huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia để đạt được các mục tiêu đề ra bởi lẽ, chính Nhà nước ban hành Hiến pháp và pháp luật nên có trách nhiệm tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật mà khâu đầu tiên phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội đến với nhân dân và đội ngũ CBCC, viên chức được giao nhiệm vụ tổ chức thực thi, chấp hành pháp luật. Thứ tư, phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội là hoạt động thường xuyên, liên tục, lâu dài và ổn định tương đối, đặt trong mối quan hệ với quá trình giáo dục toàn diện các tri thức tinh hoa pháp luật trong đời sống xã hội, quy tắc xã hội; là quá trình phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội kết hợp chặt chẽ giữa các chủ thể chuyên nghiệp và các chủ thể không chuyên nghiệp, có định hướng của Nhà nước. Vì vậy người thực hiện hoạt động phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội phải là người có tri thức pháp luật, không chỉ nắm vững tri thức pháp luật phòng, chống tệ nạn ở góc độ tính hệ thống, mà còn phải có kỹ năng truyền tải các tri thức, quy định pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội đến với các chủ thể một cách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, đồng thời là tấm gương sáng, là hình mẫu trong việc tuân thủ và chấp hành pháp luật. Thứ năm, đối tượng phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội chịu sự tác động trực tiếp của các thông tin và quy định pháp luật, trực tiếp tiếp nhận các thông tin pháp luật từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, vì thế, năng lực, trình độ hiểu biết pháp luật cũng như các yếu tố nhân thân khác của CBCC thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phụ trách phổ biến pháp luật là yếu tố tác động trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu tri thức hiểu biết pháp luật từ phía đối tượng phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội.
Mục tiêu cao nhất của phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội là nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật, tri thức pháp luật về phòng, chống tệ nạn đến với đối tượng, giúp đối tượng phổ biến pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội có được những hiểu biết về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật; hình thành lòng tin, tình cảm vào pháp luật, hình thành nhân cách hành vi và xây dựng đời sống văn hóa pháp luật trong phòng, chống tệ nạn xã hội.