Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Phí thùy tiên thực trạng sử dụng dịch vụ khám

Khóa luận nghiên cứu thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã Lam Điền huyện Chương Mỹ Hà Nội năm 2018 ngành Dược sĩ

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

69
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của Phí Thùy Tiên trong nghiên cứu y tế

Phí Thùy Tiên là một đề tài nghiên cứu học thuật tập trung vào thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã. Đây là một phần quan trọng của hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) ở Việt Nam, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn. Nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về nhu cầu và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của cộng đồng, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện chất lượng và hiệu quả của dịch vụ y tế cơ sở. Tầm quan trọng của công trình này nằm ở việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ y tế của người dân, bao gồm yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và y tế.

1.1. Định nghĩa Phí Thùy Tiên và phạm vi nghiên cứu

Phí Thùy Tiên là tên tác giả của khóa luận thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Trạm Y tế Xã Lam Điền, Huyện Chương Mỹ, Hà Nội năm 2018. Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường Đại học Dược Hà Nộ i dưới hướng dẫn của Ths. Dương Viết Tuấn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào người dân tại xã Lam Điền với mục tiêu khám phá thực trạng mắc bệnh, sử dụng dịch vụ y tế và các yếu tố liên quan.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài

Mục tiêu chính là xác định thực trạng sử dụng dịch vụ KCB tại trạm y tế xãphân tích các yếu tố ảnh hưởng như yếu tố bệnh, giá cả, cung cấp dịch vụ và yếu tố cá nhân. Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp dữ liệu cơ bản cho hoạch định chính sách y tếcải thiện chất lượng dịch vụ tại tuyến y tế cơ sở.

II. Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã

Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã cho thấy nhiều thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu sức khỏe của cộng đồng. Theo kết quả nghiên cứu của Phí Thùy Tiên, tỷ lệ người ốm trong 4 tuần trước điều tra tương đối cao, nhưng không phải tất cả đều tìm đến trạm y tế xã. Nhiều người chọn khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế khác như bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh hoặc thậm chí tự điều trị tại nhà. Điều này phản ánh sự chênh lệch giữa nhu cầu và cung cấp dịch vụ, cũng như mức độ tin tưởng của người dân đối với trạm y tế xã. Các yếu tố như chất lượng dịch vụ, trang thiết bị y tế, trình độ nhân lực đều ảnh hưởng đến quyết định của người bệnh.

2.1. Tỷ lệ và đặc điểm người ốm bệnh

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng xã Lam Điền phân bố theo nhóm tuổiloại bệnh khác nhau. Bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường chiếm tỷ lệ đáng kể. Phân loại theo cấp/mạn tính giúp xác định nhu cầu chăm sóc y tếmức độ sử dụng dịch vụ.

2.2. Lựa chọn nơi khám chữa bệnh và lý do

Lý do chọn nơi khám chữa bệnh rất đa dạng, bao gồm gần, tin tưởng nhân viên y tế, chất lượng dịch vụ. Ngược lại, lý do không chọn trạm y tế xã thường là không có đủ thiết bị, thuốc, không chữa được bệnh nặng. Phương pháp điều trịnơi mua thuốc cũng là những yếu tố quan trọng trong quyết định sử dụng dịch vụ.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh

Nghiên cứu của Phí Thùy Tiên đã xác định được nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ y tế của người dân. Yếu tố bệnh bao gồm tính chất, mức độ nghiêm trọng của bệnh; yếu tố giá cả liên quan đến chi phí khám chữa bệnh và khả năng chi trả của hộ gia đình; yếu tố bên cung như khoảng cách đến trạm y tế, chất lượng dịch vụ, nhân lực y tế; và yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn. Trình độ học vấn đặc biệt quan trọng vì ảnh hưởng đến nhận thức về sức khỏehành vi tìm kiếm dịch vụ y tế. Điều kiện kinh tế của hộ gia đình cũng là yếu tố quyết định trong việc tiếp cận dịch vụ y tế.

3.1. Yếu tố bệnh giá cả và cung cấp dịch vụ

Yếu tố bệnh bao gồm mức độ bệnh (nhẹ, nặng, rất nặng) và tính chất bệnh (cấp tính/mạn tính). Giá cả dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận, đặc biệt ở những hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn. Khoảng cách đến trạm y tếđầy đủ trang thiết bị, thuốc, nhân lực là những yếu tố bên cung không thể bỏ qua.

3.2. Yếu tố cá nhân và nhân khẩu học

Yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệpmối liên quan đáng kể đến sử dụng dịch vụ y tế. Trình độ học vấn cao hơn thường liên kết với sự hiểu biết tốt hơn về sức khỏe và hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế chủ động. Tuổi tác ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏenhu cầu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh.

IV. Kết luận và kiến nghị từ nghiên cứu Phí Thùy Tiên

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, Phí Thùy Tiên đã rút ra nhiều kết luận quan trọngkiến nghị cải thiện. Kết quả của đợt điều trị cho thấy hiệu quả hạn chế của trạm y tế xã hiện tại, do đó cần tăng cường đầu tư về trang thiết bị, nhân lực, thuốc. Chăm sóc sức khỏe ban đầu cần được phát triển mạnh mẽ với focus vào dự phòng bệnh tậtquản lý bệnh mạn tính. Các kiến nghị chính bao gồm nâng cao năng lực trạm y tế, tăng cường giáo dục sức khỏe, hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế để nâng cao tỷ lệ bảo vệ. Mối liên quan được phát hiện trong nghiên cứu đặt nền tảng cho các can thiệp y tế công cộnghiệu quả hơn.

4.1. Kết luận chính của đề tài

Kết luận chínhsử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã vẫn còn thấp so với nhu cầu của cộng đồng. Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, xã hộisử dụng dịch vụ đã được chứng minh rõ ràng. Khả năng đáp ứng nhu cầu của trạm y tế hiện tại là hạn chế và cần cải thiện ngay lập tức.

4.2. Kiến nghị cải thiện chất lượng dịch vụ y tế

Kiến nghị bao gồm: tăng cường đầu tư cho trạm y tế xã, nâng cao chất lượng nhân lực, cung cấp đầy đủ thuốc và trang thiết bị, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế, đặc biệt là bảo hiểm y tế bắt buộc (BHYT). Cần tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ tại trạm y tế xã.

21/12/2025
Phí thùy tiên thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại trạm y tế xã lam điền huyện chương mỹ hà nội năm 2018 khóa luận tốt nghiệp dược sĩ hà nội 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 1.1 Chăm sóc sức khỏe ban đầu Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một khái niệm được Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra và mục tiêu chính là nâng cao sức khỏe cho tất cả mọi người. Theo WHO, sức khỏe được định nghĩa như sau: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Người ta ngày càng nhận ra rằng sức khỏe được duy trì và cải thiện không chỉ qua những thành tựu và ứng dụng của khoa học y tế, mà còn qua những cố gắng và những lựa chọn cách sống của một cá nhân hay xã hội. Theo WHO, các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe là môi trường kinh tế và xã hội, môi trường vật lý, và đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân.

Sức khỏe tốt là một yếu tố quan trọng không chỉ với mỗi cá nhân mà còn là cả cộng đồng, xã hội [56]. Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là nền tảng cho các chính sách của WHO, nhằm xây dựng hệ thống y tế phù hợp, đáp ứng tình hình mới với sự thay đổi của mô hình bệnh tật, dân số, kinh tế - xã hội trên thế giới. Hội nghị quốc tế về CSSKBĐ được tổ chức ở Alma Alta, Kazakhstan với 134 nước tham dự ( có Việt Nam ) và 67 tổ chức quốc tế tham dự do WHO và UNICEF bảo trợ. Tại hội nghị đã thống nhất đưa ra bản tuyên ngôn Alma Alta gồm 10 điều về CSSKBĐ nhằm đạt được mục tiêu : “Sức khỏe cho mọi người” [50].

Từ đó đến nay, đã có 4 hội nghị quốc tế khác cũng đưa ra chiến lược CSSKBĐ để phù hợp sự phát triển của thế giới. Tuy có những sự thay đổi nhưng cơ bản vẫn tuân theo 10 điểm trong tuyên ngôn Alma Alta, CSSKBĐ vẫn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống sức khỏe. Trong tuyên ngôn Alma Alta, CSSKBĐ được định nghĩa: “là sự chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành, có cơ sở khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội, có thể phổ biến đến các cá nhân và các gia đình trong cộng đồng xã hội để mọi người tự nguyện tham gia và thực hiện…”.Đó là tiếp xúc đầu tiên của người dân với hệ thống y tế, đưa CSSK đến gần với người dân hơn nhằm đáp ứng nhu cầu y tế thiết yếu của phần đông dân số. Đây là công việc của nhân viên y tế, trạm y tế, bệnh viện đa khoa, phòng khám khu vực.

Hoạt động CSSKBĐ còn gồm cả những hoạt động tự chăm sóc sức khỏe của các hộ gia đình. Bên cạnh 8 yếu tố được đề cập trong Alma Alta thì Việt Nam bổ sung thêm 2 ý để gộp thành 10 nội dung CSSKBĐ của mình bao gồm: giáo dục các vấn đề sức khỏe phổ biến cũng như đưa ra 3 các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát; cung cấp nước sạch và các vấn đề vệ sinh cơ bản; tăng cường việc cung cấp thực phẩm và dinh dưỡng hợp lý; tiêm chủng phòng bệnh lây nhiễm; chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em bao gồm kế hoạch hóa gia đình; điều trị các bệnh thông thường và chấn thương; phòng và kiểm soát bệnh dịch ở địa phương; đảm bảo thuốc thiết yếu; củng cố mạng lưới y tế cơ sở và tăng cường công tác quản lý sức khỏe tuyến cơ sở. Nhà nước ta đã xác định mục tiêu trong đảm bảo sức khỏe của người dân trong thời kỳ mới: “ Bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng” [8]. Không dừng lại ở việc đặt ra mục tiêu, Chiến lược quốc gia bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn 2030 đã chỉ ra biện pháp đầu tiên cần làm đó là phải phát triển và hoàn thiện hệ thống y tế “kiện toàn và ổn định mô hình tổ chức hệ thống y tế thống nhất từ trung ương đến địa phương.

Kết hợp hài hòa giữa phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu với kiện toàn, phát triển mạng lưới y tế cơ sở…”. Có thể thấy để thực hiện CSSKBĐ thì cần thông qua mạng lưới y tế cơ sở. Củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống y tế nhà nước, góp phần sự thành công của CSSKBĐ [5]. Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ở nước ta chia làm 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và xã.

Theo hệ thống phân tuyến chuyên môn thì hệ thống cung ứng dịch vụ y tế Việt Nam chia làm 3 tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến cơ sở. Hoạt động của hệ thống y tế bao gồm tất cả các hoạt động mà mục đích cơ bản của nó là nhằm thúc đẩy, khôi phục và duy trì sức khoẻ [31].2 Vai trò TYT trong CSSKBĐ Trong hệ thống y tế, trạm y tế là nền tảng của tuyến cơ sở. Trạm y tế xã có 9 nhiệm vụ, vai trò chính. Trong đó quan trọng nhất là thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh (kết hợp, ứng dụng y học cổ truyền trong phòng bệnh và chữa bệnh); chăm sóc sức khỏe sinh sản; cung ứng thuốc thiết yếu; quản lý sức khỏe cộng đồng và truyền thông, giáo dục sức khoẻ.

Bên cạnh đó, Trạm y tế xã cũng có nhiệm vụ hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản; Phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân; Thường trực Ban Chăm sóc sức khỏe cấp xã về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao 4 sức khỏe nhân dân trên địa bàn [9]. Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe công lập, trạm y tế xã là nơi đầu tiên người dân có thể tiếp cận khi ốm đau. Nhiệm vụ của trạm y tế xã là thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm và phòng chống dịch bệnh. Chính vì vậy, vai trò của trạm y tế xã là vô cùng lớn trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu.

Bên cạnh đó, không thể không nói đến những thành tựu mà trạm y tế đã đạt được: kết quả chăm sóc sức khỏe ban đầu, cốt lõi là việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em được bảo đảm tốt hơn. Công tác giám sát dịch bệnh ngày càng chặt chẽ, chẩn đoán và điều trị kịp thời khi người dân đến cơ sở y tế, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do nhiều dịch bệnh nguy hiểm, đặc biệt giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi và bà mẹ mang thai. Mạng lưới y tế cơ sở đã góp phần thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000, uốn ván sơ sinh từ năm 2005 và đưa Việt Nam trở thành một trong 8/74 quốc gia đạt tiến độ thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giảm tử vong trẻ em; một trong 9/74 quốc gia đạt tiến độ thực hiện về mục tiêu giảm tử vong mẹ; một trong 3 quốc gia đạt được mức độ giảm hơn 75% tỷ số tử vong mẹ trong giai đoạn từ 1990 - 2010. Tỷ lệ mắc và tử vong của hầu hết các bệnh truyền nhiễm lưu hành như tay-chân-miệng, dại, sốt rét… năm 2014 đều giảm so với năm 2013 và giảm nhiều so với giai đoạn 2010 – 2013, đặc biệt giảm 50% số mắc và tử vong do sốt xuất huyết (từ 67/10000 dân xuống còn 27/10000 dân) [3].

Mạng lưới YTCS đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực phòng chống dịch, kiểm soát các bệnh lây nhiễm, trong công tác DS-KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản, tuy nhiên vẫn tồn tại không ít hạn chế trong sử dụng dịch vụ CSSKBĐ, khám và xử trí các bệnh thông thường ngay trong cộng đồng.3 Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế và khả năng đáp ứng nhu cầu của trạm y tế 1.1 Thực trạng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của người dân Hiện nay, số lượng các cơ sở chăm sóc sức khỏe tăng lên nhanh chóng nên người dân có thể tiếp cận, sử dụng một cách dễ dàng tùy từng trường hợp. Người dân đã tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB tại mạng lưới YTCS nhiều hơn, nhờ việc thực hiện một số giải pháp nâng cấp và cải thiện về cơ sở vật chất, TTB, tài chính. Một số dịch vụ kỹ thuật, thuốc thuộc tuyến trên cũng đã dần được triển khai tới tận tuyến huyện, xã. Kết quả là có sự gia tăng đáng kể việc sử dụng dịch vụ KCB tại bệnh viện đa khoa huyện, phòng khám đa khoa khu vực và TYT xã.

Việc KCB tại trạm theo BHYT ngày càng 5 phổ biến giúp người dân có thẻ không còn e ngại việc đến trạm. Tính đến năm 2014, đã triển khai KCB BHYT tại 80% tổng số TYT xã, tỷ lệ thẻ BHYT đăng ký KCB ban đầu tại TYT xã chiếm 41% và tại bệnh viện huyện chiếm 45% tổng số thẻ đăng ký KCB ban đầu [6]. Ngoài KCB bằng tây y, trạm y tế cũng phát triển các loại hình khác như thuốc đông y, xoa bóp, bấm huyệt…giúp người dân có thể tiếp cận nhiều loại hình chữa trị hơn. Năm 2014, các cơ sở KCB tuyến huyện và xã đã thành lập các tổ YHCT.

Tỷ lệ điều trị ngoại trú bằng YHCT so với tổng điều trị ngoại trú chung ở tuyến xã là 26,8% [3].1: Thống kê cơ sở y tế 2016 trên cả nước[39] Cơ sở Số lượng Tổng số 13.077 Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng 62 Phòng khám đa khoa khu vực 609 Trạm y tế xã phường 11.102 Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp 710 Cơ sở khác 31 Số lượng TYT chiếm đến 81,7% số cơ sở y tế, bao phủ hầu hết các xã phường trên cả nước nên người dân dễ dàng tiếp cận. Theo số liệu thống kê năm 2016, trong 11.102 trạm y tế thì có 584 trạm y tế xã ở Hà Nội. Điều này tạo thuận lợi cho CSSKBĐ cũng như việc tổ chức các chương trình tuyên truyền sức khỏe để nâng cao nhận thức cho người dân. Bên cạnh đó, ngày 20/12/2017, Bộ Y tế tổ chức triển khai mô hình điểm tăng cường năng lực y tế cơ sở tại trạm y tế xã, phường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ