Luận văn: Tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn phê bình sinh thái

Luận văn phân tích tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy dưới góc nhìn phê bình sinh thái, làm rõ các vấn đề về sinh thái tự nhiên, nhân văn và nghệ thuật.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2023

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phê bình sinh thái Khái niệm và ý nghĩa trong văn học

Phê bình sinh thái là một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học, xuất phát từ những năm 1990 tại các nước phương Tây. Đây là phương pháp phân tích tác phẩm văn học dưới góc nhìn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nhằm chỉ ra những hiểm họa sinh thái và tình trạng suy thoái môi trường được phản ánh qua các tác phẩm. Trong bối cảnh khủng hoảng môi trường toàn cầu từ những năm 1970, phê bình sinh thái trở thành công cụ quan trọng để các nhà văn bày tỏ trách nhiệm xã hội và cảnh báo về những nguy hiểm sinh thái. Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu này đã được áp dụng để phân tích các tác phẩm văn học phản ánh hiện thực đất nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến biến đổi môi trường và cuộc sống của các cộng đồng địa phương.

1.1. Khái niệm phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái là phương pháp nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên. Nó đề cao vai trò của tự nhiên không phải chỉ là bối cảnh hay phông nền, mà là một diễn viên ngang hàng trong tấn kịch cuộc đời con người. Phương pháp này giúp chúng ta nhận diện cách thức con người tác động đến tự nhiên và hậu quả của những hành động đó qua các tác phẩm văn học.

1.2. Ý nghĩa của phê bình sinh thái trong văn học Việt

Trong văn học Việt Nam hiện đại, phê bình sinh thái giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tình trạng sinh thái đất nướctinh thần trách nhiệm của các nhà văn. Các tác phẩm như "Sông" của Nguyễn Ngọc Tư, "Chó Bi, đời lưu lạc" của Ma Văn Kháng là những minh chứng rõ ràng về cách mà văn học tiếp cận vấn đề sinh thái.

II. Sinh thái tự nhiên trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy

Đỗ Bích Thúy là một nhà văn có tâm hồn sinh thái sâu sắc, người luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, đặc biệt là con người miền núi với các vùng đất hoang dã của Hà Giang. Trong các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, tự nhiên không chỉ xuất hiện như một bối cảnh đẹp mà còn là nhân vật chính có vai trò quyết định đến số phận của nhân vật. Cảnh vật thiên nhiên như rừng, núi, đất đá được mô tả với sự trìu mến và cảm thương, phản ánh sâu sắc sự gắn kết bền chặt giữa con người với tự nhiên. Tuy nhiên, tác phẩm của Đỗ Bích Thúy cũng cảnh báo về những tác hại của tận diệt tự nhiên, về sự chiếm đoạt không gian hoang dãsự trừng phạt của tự nhiên đối với con người.

2.1. Mối quan hệ gắn kết giữa con người và tự nhiên

Trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy, con người và tự nhiên không tách rời nhau. Sinh thái tự nhiên được thể hiện qua những mô tả sinh động về rừng, sông, đất đai của vùng cao. Nhân vật của Đỗ Bích Thúy luôn phụ thuộc vào tự nhiên, sống từ những gì tự nhiên ban tặng. Sự phản lãng mạn về cuộc sống nông thôn cũng phản ánh thực trạng khó khăn khi con người không thể kiểm soát tự nhiên.

2.2. Tận diệt tự nhiên và sự trừng phạt sinh thái

Phê bình sinh thái trong các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy còn thể hiện qua việc tận diệt tài nguyên thiên nhiên. Khi con người chiếm đoạt không gian hoang dã một cách vô tận, tự nhiên sẽ trừng phạt với các hiểm họa sinh thái. Những điều này được nhà văn cảnh báo tinh tế qua các sự kiện và số phận bi thảm của nhân vật.

III. Sinh thái nhân văn và khủng hoảng đô thị trong tác phẩm

Bên cạnh sinh thái tự nhiên, Đỗ Bích Thúy cũng chú trọng đến sinh thái nhân văn - những vấn đề liên quan đến thay đổi không gian văn hóakhủng hoảng đô thị. Tác phẩm của nhà văn phản ánh sự mai một không gian văn hóa truyền thống khi người dân miền núi di cư vào thành phố. Nỗi bất an đô thị được thể hiện qua tâm lý nhân vật - sự lạc lõng, không thích nghi với cuộc sống thành thị. Đỗ Bích Thúy không lãng mạn hóa cuộc sống nông thôn mà thể hiện cái nhìn phản lãng mạn, chỉ ra những khó khăn thực tế trong cuộc sống nông thôn. Các tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy như "Bóng của cây sồi" và "Chúa đất" là những minh chứng rõ nét về cách nhà văn kết hợp hai loại sinh thái - tự nhiên và nhân văn - để tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về khủng hoảng sinh thái.

3.1. Sự mai một không gian văn hóa truyền thống

Sinh thái nhân văn trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy thể hiện sự mất mát không gian văn hóa. Khi con người rời bỏ quê hương để tìm kiếm cuộc sống mới, những giá trị văn hóa truyền thống đã bị mai một dần. Phê bình sinh thái nhân văn này giúp bạn đọc nhận thức rõ về mối nguy hiểm của sự đánh mất bản sắc văn hóa.

3.2. Nỗi bất an đô thị và khủng hoảng tinh thần

Nỗi bất an đô thị là một chủ đề quan trọng trong phê bình sinh thái nhân văn của Đỗ Bích Thúy. Nhân vật của tác phẩm cảm thấy lạc lõng, bất an trong môi trường thành phố. Sự khủng hoảng tinh thần này phản ánh rục rịch chuyển đổi sinh thái khi con người bỏ rơi sinh thái tự nhiên để hòa nhập sinh thái đô thị.

IV. Những biểu tượng sinh thái và cách tiếp cận nghệ thuật

Để biểu hiện phê bình sinh thái, Đỗ Bích Thúy sử dụng các biểu tượng nghệ thuậtgiá trị sinh thái sâu sắc. Cây, đất, nước không chỉ là các yếu tố tự nhiên mà còn là ký hiệu của cuộc sống, thay đổi và khủng hoảng. Không gian sinh thái trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy được xây dựng chi tiết qua mô tả không gian tự nhiênkhông gian đô thị, để thể hiện sự đối lập. Kiểu nhân vật trong tác phẩm - từ người nông dân đến người phụ nữ - đều phải đối mặt với khủng hoảng sinh thái theo những cách khác nhau. Thông qua góc nhìn nữ quyền sinh thái, Đỗ Bích Thúy chỉ ra tình cảnh bi đát của phụ nữ miền núi, những người chịu ảnh hưởng hai lớp áp bức từ khủng hoảng sinh tháibất bình đẳng giới.

4.1. Không gian sinh thái tự nhiên và đô thị

Không gian sinh thái được Đỗ Bích Thúy xây dựng tinh tế qua không gian tự nhiên gắn liền với con người miền núikhông gian sinh thái đô thị. Sự đối lập giữa hai không gian này phản ánh khủng hoảng sinh tháisự chuyển đổi ngoạn mục của đất nước. Góc nhìn sinh thái giai cấp giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tình cảnh của người nông dân.

4.2. Biểu tượng cây đất nước và ý nghĩa sinh thái

Biểu tượng cây đại diện cho sự sốngsự kết nối con người với tự nhiên. Biểu tượng đất tượng trưng cho quê hươngbản sắc văn hóa. Biểu tượng nước biểu thị sự thay đổikhó khăn thách thức. Những biểu tượng này giúp nhà văn truyền tải thông điệp sinh thái một cách tinh tế và sâu sắc.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ DẤU ẤN SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ BÍCH THÚY 1. Giới thuyết chung về phê bình sinh thái 1. Khái niệm phê bình sinh thái Từ những năm 70 của thế kỷ XX, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học kỹ thuật đã tác động không nhỏ đến môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái. Trước bối cảnh đó, giới học thuật hướng sự chú ý xoay quanh việc bàn luận về thuật ngữ sinh thái học (Ecology).

Từ sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, được kết hợp giữa hai danh từ là oikos (nơi ở) và logos (môn học/ nghiên cứu). Từ đó có thể hiểu, sinh thái học là một môn học nghiên cứu về “nhà” và “nơi ở” của toàn thể sinh vật, hay nói cách khác là nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật với môi trường sống xung quanh. Nói theo nghĩa rộng thì “sinh thái học là môn học về tất cả các quan hệ giữa sinh vật, môi trường và các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của chúng”. Nguồn gốc ra đời thuật ngữ sinh thái học (Ecology) do nhà sinh vật học người Đức - Ernst Haeckel lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này trong cuốn sách “Hình thái học sinh vật đại cương” (Generelle Morphologie der Organismen) vào năm 1866.

Tại đây, ông đã định nghĩa sinh thái học là “môn học về tương quan giữa thế giới bên ngoài và các sinh vật”. Ngoài ra, từ điển Oxford của Anh cũng đưa sinh thái học vào định nghĩa và thơ ca lãng mạn Anh sử dụng nó để biểu đạt tầng nghĩa sâu xa của trái đất và “nơi ở” (okios, dwelling place). Có thể thấy, theo thời gian, sinh thái học có rất nhiều định nghĩa, nhưng chung quy lại là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật hay mối tương quan giữa sinh vật và nơi cư trú. Mãi đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, sinh thái học phát triển mạnh mẽ, nó không chỉ thâm nhập vào lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn tiến sâu vào lĩnh vực khoa học xã hội như: Văn học sinh thái (Ecoliterature), Chính trị học sinh thái (Ecological politics), Phê bình sinh thái (Ecocriticism), Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism),.

Nhìn nhận từ khuynh hướng phê bình văn hoá và văn học, phê bình sinh thái (Ecocriticism) tiếp thu bản chất cốt lõi của sinh thái học ứng dụng vào nghiên cứu văn học hay nói cách khác là “dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” [27]. Thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocriticism) được cấu thành từ tiền tố “eco” - sinh thái học và “criticism” - sự phê bình. Định nghĩa về thuật ngữ này đã có rất nhiều học giả trên thế giới đưa ra các khái niệm khác nhau. Điển hình như định nghĩa của James S.

Hans trong công trình “(Những) giá trị của văn học (The Value(s) of Literature)”: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa cầu. Văn học không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bên ngoài. Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì sẽ làm cản trở mối liên hệ rất quan trọng của văn học và các hệ thống khác, 8 mà chính những mối liên hệ đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị của chúng ta” [51;5]. Hay cách lý giải về thuật ngữ phê bình sinh thái của Scott Slovic được đánh giá cao tại hội thảo khoa học liên quan đến phê bình sinh thái ở thành phố Salt Lake (Mỹ) vào năm 1994.

Tại đây, ông cho rằng: “Phê bình sinh thái là chỉ hai phương diện nghiên cứu: Vừa có thể sử dụng bất kỳ một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lối viết tự nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong bất cứ văn bản văn học nào. Điểm nóng của nghiên cứu này… phản ánh nhận thức ngày càng lớn của xã hội đương đại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thương của thế giới phi nhân loại” [31]. Trong chuyên luận “Tưởng tượng về môi trường: Thoerau, lối viết tự nhiên và sự hình thành văn hoá Mỹ” (The Environmental Imagination: Thoerau, Nature Writing, and the Formation of American Culture), GS. Lawrence Buell đưa ra những lý giải về phê bình sinh thái đi “từ thực tiễn của chủ nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường” [47;430].

Tuy nhiên, theo cách nói của GS. Lawrence Buell thì ông đang định nghĩa về phê bình môi trường và thuyết phục các học giả kiên định với thuật ngữ phê bình sinh thái đổi sang phê bình môi trường. Điều đặc biệt trong định nghĩa của GS. Lawrence Buell luôn nhấn mạnh về vai trò của phê bình sinh thái và các nhà khoa học cần chú trọng đến nguy cơ sinh thái, hoạt động môi trường thay vì chỉ quan tâm đến mặt khoa học.

Có lẽ vì thế mà khuynh hướng tư tưởng tác giả hướng đến là đề cao chủ nghĩa môi trường, lấy môi trường làm trung tâm mà xa rời chủ nghĩa nhân loại. Khác với quan điểm của GS. Lawrence Buell, nhà phê bình sinh thái đầu tiên của Mỹ - GS. Cheryll Glotfelty đã đưa ra định nghĩa về phê bình sinh thái trong lời giới thiệu cho “Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học” rằng: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên… Toàn bộ phê bình sinh thái có chung một tiền đề cơ bản, đó chính là văn hoá nhân loại được gắn kết với thế giới vật chất và có ảnh hưởng qua lại với thế giới đó.

Phê bình sinh thái lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hoá, đặc biệt là văn hoá sáng tạo về ngôn ngữ và văn hoá làm chủ đề. Với tư cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở Trái đất; với tư cách là một diễn ngôn lý thuyết, nó làm hài hoà mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” [48;XIX]. Rút ra từ định nghĩa này thì phê bình sinh thái cần “đứng một chân ở văn học” là nhìn nhận ở tính thẩm mỹ và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học, còn “một chân ở Trái đất” là đứng ở góc độ toàn bộ hệ thống sinh thái để nhìn nhận vấn đề. Cheryll Glotfelty còn nhấn mạnh rõ “phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm” [48;XVIII].

Trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới, các nhà khoa học đề cập đến quan điểm của mình về khái niệm phê bình sinh thái. Hầu hết các chuyên gia văn học trên thế giới và Việt Nam đều thừa nhận định nghĩa của GS. 9 Còn theo tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy, các học giả Trung Quốc lại nghiên về định nghĩa của GS. Trên cơ sở tổng hợp các định nghĩa, trong cuốn “Rừng khô, suối cạn, biển độc.

và văn chương - Phê bình sinh thái”, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy đã đề xuất như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” [38;157]. Vì tính chất mở, đa chiều và liên ngành nên nhận được rất nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái. Dù rằng có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các nhà nghiên cứu đều đồng nhất quan điểm phê bình sinh thái được xây dựng dựa trên chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng, phán xét nguồn gốc văn hoá tư tưởng của nguy cơ sinh thái và lấy thẩm mỹ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo. Đây cũng chính là quan điểm của chúng tôi trong luận văn này.

Lược sử phê bình sinh thái Hiện nay, phê bình sinh thái đã trở thành xu hướng nghiên cứu liên ngành và ngày càng mở rộng. Từ khi ra đời đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình có liên quan đến lý thuyết và ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học. Nhìn nhận về quá trình hoạt động và phát triển, chúng tôi phân chia phê bình sinh thái thành ba giai đoạn: Giai đoạn manh nha (từ năm 1972 đến 1991), giai đoạn phát triển (từ năm 1992 đến 2004), giai đoạn củng cố hoàn thiện và mở rộng (từ năm 2005 đến nay). Giai đoạn manh nha (1972-1991) Mặc dù phê bình sinh thái đã manh nha từ trước, nhưng mãi đến năm 1972 của thế kỷ XX, W.Meeker xuất bản cuốn sách “Hài kịch của sinh tồn: nghiên cứu sinh thái học văn học” (The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology) thì các nhà nghiên cứu mới bắt đầu để tâm đến mối quan hệ giữa văn hoá, văn học và môi trường.

Trong cuốn sách, tác giả đặc biệt chú ý đến vấn đề sinh thái trong văn học. Ông soi chiếu qua một số sáng tác của Dante Alighieri, William Shakespeare, hay soi chiếu kịch Hi Lạp cổ đại, kịch của William Shakespeare. Qua đó, ông đưa ra đề xuất rằng: “Con người đang là những sinh vật thuộc về văn học duy nhất trên trái đất. Nếu sự sáng tạo văn học là một đặc điểm quan trọng của loài người, nó cần được kiểm tra một cách cẩn thận và trung thực để khám phá ảnh hưởng của nó đối với hành vi của con người và môi trường tự nhiên – để xác định vai trò gì, nếu có, nó đóng vai trò trong sự bảo vệ và sự tồn tại của nhân loại, và những gì nó cho thấy một cái nhìn sâu sắc vào các mối quan hệ của con người với các loài khác và với thế giới xung quanh chúng ta” [52;3-4].

Trên cơ sở này, năm 1978, thuật ngữ “phê bình sinh thái” (Ecocriticism) lần đầu tiên được William Rueckert sử dụng với dụng ý là sự “kết hợp văn học và sinh thái học” trong tiểu luận “Văn học và Sinh thái học: Một thử nghiệm trong Phê bình sinh thái” (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism). Tại đây, tác giả đề xuất “xây dựng được một hệ thống thi pháp sinh thái” nhằm tạo sự kết nối giữa văn học và sinh thái học trong lý luận văn học hiện đại. 10 Đến năm 1985, khi Frederick O.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ