Luận án Tiến sĩ: Phẫu thuật nội soi qua mũi u màng não sàn sọ trước

Luận án tiến sĩ về phẫu thuật nội soi qua mũi u màng não sàn sọ trước. Nghiên cứu chi tiết về giải phẫu, lâm sàng và kết quả điều trị.

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Y học

2023

183
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phẫu thuật nội soi qua mũi u màng não sàn sọ trước

Phẫu thuật nội soi qua mũi u màng não sàn sọ trước là một kỹ thuật phẫu thuật hiện đại được ứng dụng rộng rãi trong điều trị các u màng não vùng sàn sọ trước. Đây là một phương pháp xâm lấn tối thiểu, cho phép các bác sĩ phẫu thuật tiếp cận khối u thông qua đường hở tự nhiên qua khoang mũi, tránh phải mở lớn sọ não. U màng não sàn sọ trước là những khối u lành tính thường gặp ở vùng trước của não bộ, có khả năng ảnh hưởng đến thị lực và các chức năng thần kinh khác. Phương pháp nội soi qua mũi mang lại nhiều lợi ích so với phẫu thuật mở thông thường, bao gồm giảm chấn thương mô, rút ngắn thời gian nằm viện, và phục hồi nhanh chóng. Kỹ thuật này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia phẫu thuật ngoại khoa và tai mũi họng để đạt được kết quả tối ưu.

1.1. Khái niệm u màng não sàn sọ trước

U màng não sàn sọ trước (UMNSSТ) là những khối u phát triển từ màng cứng vùng sàn sọ trước, bao gồm các vị trí như rãnh khứu giác, căn giường yên và mái xương bướm. Đây là những u lành tính, phát triển chậm, thường không có triệu chứng trong giai đoạn ban đầu. Tuy nhiên, khi khối u phát triển lớn, nó có thể gây chèn ép các cấu trúc thần kinh quan trọng như dây thần kinh thị giác, làm ảnh hưởng đến thị lực và gây các triệu chứng thần kinh-tâm lý.

1.2. Ưu điểm của phương pháp nội soi qua mũi

Phương pháp nội soi qua mũi có nhiều ưu điểm vượt trội: không cần mở rộng sọ não, giảm đau sau phẫu thuật, thời gian phục hồi ngắn, cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Tiếp cận qua mũi giữ nguyên các cấu trúc xương và mô mềm quan trọng, tránh biến chứng liên quan đến mở sọ. Kỹ thuật này đặc biệt hiệu quả với các u kích thước vừa phải và không xâm lấn quá rộng.

II. Giải phẫu học sàn sọ trước và các cấu trúc giải phẫu liên quan

Hiểu rõ giải phẫu học sàn sọ trước là yếu tố then chốt để thực hiện thành công phẫu thuật nội soi qua mũi. Vùng này bao gồm nhiều cấu trúc phức tạp như mái xương bướm, mảnh sàng, và các ống thị giác. Các động mạch não trước và các dây thần kinh quan trọng đi qua khu vực này, đòi hỏi sự cẩn thận cao độ trong quá trình lấy u. Xoang bước trước cung cấp đường tiếp cận an toàn và hiệu quả. Sự hiểu biết sâu sắc về vị trí tương đối giữa các cấu trúc giải phẫu giúp phẫu thuật viên tối ưu hóa lấy u và giảm thiểu biến chứng. Các phương pháp dẫn hướng trong lòng sọ hiện đại hỗ trợ đắc lực cho việc định vị chính xác khối u.

2.1. Các cấu trúc giải phẫu quan trọng

Mái xương bướm (planum) tạo nên giới hạn trước của hố yên. Ống thị giác chứa dây thần kinh thị giác và động mạch độc nhất vô nhị. Mảnh sàng tách rãnh khứu giác khỏi khoang sọ. Động mạch cảnh trong đi qua sâu bên cạnh vùng sàn sọ. Việc bảo vệ các cấu trúc này trong phẫu thuật là ưu tiên hàng đầu.

2.2. Đường tiếp cận nội soi qua mũi

Tiếp cận qua xoang bước trước là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Phẫu thuật viên tạo lỗ ở mái xương bướm để truy cập vào sàn sọ trước. Các dẫn hướng nội soi giúp định vị chính xác vị trí lỗ truy cập. Phương pháp này cho phép lấy u hoàn toàn với morbidity thấp.

III. Đặc điểm lâm sàng hình ảnh học và chỉ định phẫu thuật

U màng não sàn sọ trước thường biểu hiện với các triệu chứng khác nhau tùy theo kích thước và mức độ xâm lấn. Thị lực giảm là triệu chứng phổ biến nhất, bắt nguồn từ chèn ép dây thần kinh thị giác. Đau đầu thường xuyên cũng là một trong những khiếu nại chính của bệnh nhân. Các triệu chứng nội tiết có thể xuất hiện nếu u xâm lấn vào tuyến yên. Chụp MRI não bộ là phương pháp hình ảnh tiêu chuẩn, cho phép đánh giá kích thước, mức độ xâm lấn mạch máu, và mối quan hệ với các cấu trúc lân cận. Chỉ định phẫu thuật được xác định dựa trên triệu chứng lâm sàng, tiến triển u trên theo dõi, và khả năng lấy u hoàn toàn.

3.1. Triệu chứng lâm sàng và nhân tố nguy hiểm

Giảm thị lực hoặc mù mũi là triệu chứng cảnh báo cao. Nhân tố nguy hiểm bao gồm kích thước u >3cm, xâm lấn mạch máu, và xâm lấn ống thị giác. Đánh giá chức năng thị lực bằng đo thị trườngđo thị lực rất quan trọng trước phẫu thuật. Bệnh nhân với triệu chứng tăng tiến cần phẫu thuật nhanh để tránh tổn thương thần kinh vĩnh viễn.

3.2. Hình ảnh học và dẫn hướng phẫu thuật

Chụp cắt lớp vi tính (CT) giúp đánh giá các điểm mốc xương. Chụp mạch máu (CTA, MRA) định vị mối quan hệ u và mạch máu. Dẫn hướng trong lòng sọ hiện đại sử dụng hệ thống định vị không khuôn khổ để theo dõi vị trí dụng cụ trong phẫu thuật, tăng độ chính xác và an toàn.

IV. Kỹ thuật phẫu thuật kết quả điều trị và biến chứng

Phẫu thuật nội soi qua mũi là quy trình đòi hỏi kỹ năng cao và sự chuẩn bị cẩn thận. Tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm giữ nguyên tính toàn vẹn của màng cứng, sử dụng dao siêu âm để phân tách u, và lấy u hoàn toàn nếu có thể. Đóng vùng tiếp cận thường được thực hiện bằng vá chôn vùng bán nguyệt, mô tự nuôi, hoặc vật liệu thay thế. Kết quả điều trị thường rất tích cực, với tỷ lệ lấy u hoàn toàn dao động từ 75-95%. Phục hồi thị lực được thấy ở đa số bệnh nhân trong vài tuần đến vài tháng sau phẫu thuật. Biến chứng có thể bao gồm rò dịch não tủy, viêm màng não, xuất huyết, nhưng tỷ lệ này khá thấp (2-5%).

4.1. Các bước kỹ thuật phẫu thuật chủ yếu

Bước 1: Tiếp cận qua mũi và tạo lỗ sàn sọ. Bước 2: Mở màng cứng cẩn thận. Bước 3: Định vị và phân tách u khỏi các cấu trúc thần kinh. Bước 4: Sử dụng CUSA (dao siêu âm) để lấy u từ trung tâm ra ngoài. Bước 5: Kiểm tra không có dư u bằng nội soi. Bước 6: Đóng cẩn thận màng cứng và các lớp mô.

4.2. Kết quả điều trị và biến chứng sau phẫu thuật

Lấy u hoàn toàn đạt 85-95% bệnh nhân. Cải thiện thị lực thấy ở 70-80% trường hợp. Đau đầu hết hoặc giảm ở 80% bệnh nhân. Biến chứng tạm thời như rò dịch, viêm xoang. Biến chứng vĩnh viễn hiếm gặp. Tỷ lệ tái phát rất thấp (<5% trong 10 năm).

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU U MÀNG NÃO SÀN SỌ TRƯỚC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Năm 1879, William Macewen là người đầu tiên thực hiện ca phẫu thuật lấy u màng não sàn sọ trước. Tác giả sau đó mô tả lại phương pháp phẫu thuật và đăng báo năm 1881. Francesco Durante là người tiếp theo phẫu thuật và mô tả chi tiết hơn loại u này vào năm 1884, sau phẫu thuật ba tháng tác giả đăng trên tạp chí Lancet và báo cáo tại Hội nghị Y khoa Quốc Tế tại Washington năm 18871,2.

Năm 1927 Harvey Cushing là người mô tả đầy đủ về triệu chứng lâm sàng và phương pháp lấy u màng não vùng sàn sọ trước. Năm 1938 sau nhiều ca phẫu thuật thành công, ông có nhiều báo cáo về u màng não. Kế thừa Cushing, Dandy phẫu thuật lấy u màng não sàn sọ tuy nhiên vẫn cắt bỏ não trán. Tonnis sau đó phát triển kỹ thuật phẫu thuật mở sọ trán hai bên và bảo tồn não trán.

Năm 1970, các phẫu thuật viên bắt đầu quen với kỹ thuật phẫu thuật này và kính hiển vi đã được ứng dụng để phẫu thuật vi phẫu. Sau đó tác giả Chi và cộng sự báo cáo đường phẫu thuật sọ trán hai bên mở rộng (cắt xương ổ mắt) và đạt được kết quả khá tốt1,2. Đường phẫu thuật trán thái dương (Pterion) rất phổ biến bởi tác giả Yasargil và đường phẫu thuật này được đặc biệt mô tả để tiếp cận u màng não sàn sọ trước bởi tác giả Hassler và Zentnerg viết sách về u màng não1,2. Năm 1990, Perneczky và cộng sự đã đề xuất mở một lỗ nhỏ sọ trán phía trên ổ mắt để giải quyết các loại thương tổn sàn sọ trước và sàn sọ giữa (trong đó có u màng não) được gọi là mở sọ lỗ khoá trên ổ mắt, một trong những áp dụng về phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong phẫu thuật thần kinh7,15-19.

Hầu hết khối u màng não này phát triển từ đường giữa sàn sọ trước, phát triển đẩy các cấu trúc mạch máu và thần kinh thiết yếu lên trên và ra ngoài. Mối tương quan này khiến cho cách tiếp cận từ mặt bụng sàn sọ điều trị các u nhỏ đường giữa khá dễ dàng, mở ra kỷ nguyên cho phẫu thuật nội soi sàn sọ. Couldwell và cộng sự khai sáng đường phẫu thuật nội soi qua mũi mở rộng điều trị thành công u màng não vùng củ yên và mái xương bướm1,2. 4 Hiện nay, với ứng dụng của nội soi qua mũi, điều trị u màng não sàn sọ trước đạt được nhiều thành công với tỉ lệ tử vong và di chứng thấp7,8,10-12,14,18,20-30.

Ở nước ta, điều trị các u màng não sàn sọ trước chủ yếu vẫn là phẫu thuật mở sọ lấy u vi phẫu và đã có một vài báo cáo riêng lẻ giới hạn cho từng vị trí của u. Năm 2003, tác giả Võ Văn Nho báo cáo tổng kết 35 ca u màng não củ yên được phẫu thuật tại khoa Ngoại thần kinh BV Chợ Rẫy. Tất cả các bệnh nhân đều được phẫu thuật qua đường dưới trán một bên, lấy toàn bộ u một lần 34 ca, một ca phải phẫu thuật lần hai mới lấy được hết hoàn toàn u. Kết quả tốt trong tất cả các bệnh nhân31 Năm 2011 tác giả Nguyễn Ngọc Khang trong luận án “chẩn đoán sớm và đánh giá kết quả phẫu thuật u màng não vùng củ yên” được thực hiện tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy, có 107 trường hợp nghiên cứu.

Các bệnh nhân này đều được phẫu thuật qua các đường mở sọ thóp bên trước, trán hai bên, dưới trán một bên32 Năm 2012 tác giả Nguyễn Văn Tấn báo cáo luận án “Điều trị vi phẫu thuật u màng não vùng rãnh khứu” được thực hiện tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy với kết quả tốt33. Năm 2016 tác giả Ngô Văn Công trong luận án “Nghiên cứu phẫu thuật nội soi qua mũi điều trị khối u nền sọ trước”, có báo cáo 45 ca u nền sọ nhưng chủ yếu là u ác và là u trong các xoang cạnh mũi và ngoài màng cứng34. Năm 2019 tác giả Đỗ Mạnh Thắng trong luận án “nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, đặc điểm cộng hưởng từ và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u màng não trên yên” báo cáo 57 trường hợp u màng não trên yên, trong đa số các trường hợp (49,7%) được lấy u qua đường mở sọ trán thái dương (pterion), trong đó có 10 trường hợp (17,5%) được phẫu thuật lấy u qua đường phẫu thuật mở sọ lỗ khoá trên ổ mắt. Với kết quả lấy u simpson II và III 53,4%, tỷ lệ hồi phục thị lực đạt 62,68%35.

Năm 2022 tác giả Lê Khâm Tuân trong luận án “Đánh giá kết quả điều trị u màng não củ yên bằng cách mở sọ lỗ khóa trên ổ mắt” báo cáo 50 trường hợp u màng não củ yên với mức độ lấy trọn u đạt tỷ lệ 70%, lấy gần trọn u 28% và lấy. 5 một phần u 2%, thị lực cải thiện tốt hơn đạt 56%, không thay đổi 34%, và xấu hơn chiếm 10%36 Về phẫu thuật nội soi qua mũi tại Việt Nam, đã nhiều công trình báo cáo nhưng chủ yếu tập trung là đường phẫu thuật qua xoang bướm lấy u tuyến yên. Phương pháp này đã được thực hiện tại bệnh viện Việt Đức và bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2000 và cho thấy là phương pháp phẫu thuật an toàn hiệu quả, ít biến chứng. Cùng với những tiến bộ mới trong y học và những hiểu biết sâu sắc hơn về giải phẫu sàn sọ, hình ảnh nhìn qua nội soi được cải thiện, ứng dụng hệ thống định vị thần kinh trong phẫu thuật, cũng như rất nhiều các phương tiện hỗ trợ hình ảnh hiện đại, phẫu thuật nội soi lấy u tuyến yên qua xoang bướm đã và đang phát triển nhanh tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh lớn trên khắp cả nước như bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, bệnh viện Nguyễn Tri Phương TPHCM 31,37-39.

Hàng năm nhiều công về phẫu thuật u tuyến yên qua xoang bướm được báo cáo tại hội nghị phẫu thuật thần kinh thường niên toàn quốc với kết quả khả quan40-42 Tiếp theo sự phát triển này, chúng tôi ứng dụng kỹ thuật phẫu thuật nội soi qua mũi giải quyết các tổn thương trong màng cứng như xu hướng các nước tiên tiến trên thế giới, cụ thể là các u màng não sàn sọ trước nằm ở đường giữa thỏa tiêu chuẩn phẫu thuật nội soi qua mũi. GIẢI PHẪU HỌC SÀN SỌ TRƯỚC 1. Giải phẫu cấu trúc xương sàn sọ 1. Giải phẫu chung sàn sọ Hộp sọ được chia thành xương sọ và khung xương mặt.

Xương sọ được chia thành vòm sọ do sự hợp nhất thành dạng hình vòm của các xương trán, đính, chẩm, TD, cánh lớn XB và phần nền sọ. Nền sọ hay sàn sọ được hình thành từ xương chẩm, TD, sàng, trán và kết nối với nhau bởi XB nằm trung tâm. Mặt trong của SS, nơi bao bọc nhu mô não, được chia tự nhiên thành hố sọ trước, giữa và sau (hình 1.1) và mặt ngoài SS đối diện với các cấu trúc KM, các xoang, ổ mắt, hầu họng và hố TD dưới, hố chân bướm khẩu cái, các khoang cạnh hầu họng và dưới xương đá. 6 Hố sọ trước Hố sọ giữa Hố sọ sau Hình 1.1: Mặt trong sàn sọ “Nguồn: Next A , 2022”43 Bên trong của nền sọ, ranh giới giữa hố sọ trước và hố sọ giữa được đánh dấu bằng bờ sau cánh bé XB, được nối với nhau ở trung gian bởi rãnh giao thoa thị giác (hình 1.

Ranh giới giữa hố sọ giữa và hố sọ sau là bờ trên xương đá, được nối với nhau bởi lưng yên và mấu giường sau (đường màu xanh) Bề mặt trên của SST được hình thành bởi xương trán là trần ổ mắt. Xương sàng xen giữa xương trán và là vị trí của mảnh sàng. Cánh bé XB và phần trước thân bướm hình thành phần sau của SST. Bề mặt trên hố sọ giữa được hình thành từ cánh lớn XB, và thân bướm trước và bề mặt trên của XTD sau.

Phần sau của nền sọ được hình thành bởi XTD và xương chẩm. Bề mặt ngoài sọ được hình thành chủ yếu bởi các xương hàm trên, gò má, khẩu cái, XB, XTD, xương chẩm và XLM. Xương hàm trên, ổ mắt, và KM nằm bên dưới hố sọ trước. Phần trước của khẩu cái cứng được hình thành bởi hàm trên, và phần sau được hình thành bởi xương vòm miệng.

Xương lá mía gắn vào phần dưới của thân bướm và tạo thành phần sau của vách ngăn mũi. Phần trước của cung gò má được tạo thành bởi xương gò má và phần sau bởi một phần của XTD. Hố hàm dưới nằm bên dưới phần sau của hố sọ giữa. Hố TD dưới nằm dưới cánh lớn XB và được giới hạn phía trước bởi mào TD dưới.

Mỗi khu vực trong số ba khu vực nền sọ. 7 đều có một phần ở trung tâm và thành phần hai bên. Các phần trung tâm được sắp xếp như một hành lang đường giữa và bao gồm khu vực sàng, mái xương bướm, yên bướm, xương bản vuông, khớp chẩm cổ ở mặt trong SS; mặt ngoài phần hành lang trung tâm này bao gồm KM, xoang bướm và hầu họng8.2 Giải phẫu sàn sọ trước Mặt trong SST được hình thành từ sự hợp nhất của ba xương: xương trán, XS và XB. Phần ổ mắt của xương trán hình thành chủ yếu giới hạn bên của hố sọ trước là trần hốc mắt, cung cấp sự nâng đỡ cho và hồi ổ mắt của thùy trán.

Khoảng trống trung gian giữa các ổ mắt được lấp đầy bởi bề mặt não của XS, cụ thể là mào gà và tấm sàng. Mào gà cung cấp điểm gắn kết với liềm đại não, trong khi tấm sàng nâng đỡ cấu trúc hành khứu. Phía sau hố sọ trước được giới hạn bởi cánh bé XB hai bên và thân XB ở giữa. Theo cách này, phần giữa của SST được hình thành bởi ba xương, trong khi phần bên, bao phủ ổ mắt và OTG, chỉ được hình thành bởi hai xương là phần ổ mắt xương trán và cánh bé XB ở mỗi bên.

Phần trung gian SST, bao phủ KM trên và xoang bướm, được hình thành từ mào gà và tấm sàng của XS ở phía trước và phần MXB của XB phía sau. Phần bên bao phủ ổ mắt và OTG, được hình thành từ xương trán và cánh bé XB, chúng hợp nhất về phía đường giữa và hình thành mấu giường trước hướng về phía hố sọ giữa. Ở phía ngoài sọ, phần bên của SST nằm ở đỉnh của hốc mắt và xoang hàm trên. Về phía đường giữa của sàn sọ trước tương ứng là xoang bướm của thân XB và các xoang sàng ở phần đỉnh của KM.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ