Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật hẹp thực quản do hóa chất (Luận văn)

Tài liệu phân tích, đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật hẹp thực quản do hóa chất. Báo cáo chi tiết phương pháp, biến chứng và tỉ lệ thành công.

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn chuyên khoa cấp II

2023

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hẹp thực quản do hóa chất

Hẹp thực quản do hóa chất là một biến chứng mãn tính nghiêm trọng xảy ra khi bệnh nhân nuốt nhầm các chất có tính axit hoặc kiềm. Theo Hiệp hội Kiểm soát chất độc Hoa Kỳ (AAPCC), hàng năm có hàng nghìn ca tổn thương đường tiêu hóa trên do hóa chất. Mức độ tổn thương được xác định bởi bản chất hóa chất, lượng tiêu thụ, trạng thái (rắn hoặc lỏng) và thời gian tiếp xúc với niêm mạc. Phẫu thuật hẹp thực quản trở thành giải pháp không thể tránh khỏi khi các biện pháp điều trị nội khoa không mang lại hiệu quả. Nghiên cứu về kết quả điều trị phẫu thuật giúp các bác sĩ đánh giá hiệu quả và cải thiện kỹ thuật mổ, từ đó nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa và nguyên nhân gây bệnh

Hẹp thực quản là sự hạn chế đường kính thực quản do tổn thương niêm mạc và xơ hóa. Nuốt phải hóa chất axit hoặc kiềm gây bỏng hóa chất là nguyên nhân chính. Các chất này gây viêm, loét, và cuối cùng hình thành mô sẹo làm hẹp lòng thực quản. Thời gian phát triển hẹp có thể từ vài tuần đến vài tháng sau chấn thương ban đầu.

1.2. Tần suất và mức độ nghiêm trọng

Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi tùy theo vùng địa lý và mức độ tuyên truyền an toàn. Ở các nước phát triển, hầu hết các ca hẹp thực quản do tự tử, còn ở các nước đang phát triển, chủ yếu do tai nạn. Mức độ tổn thương ăn da được phân loại theo thang Zargar, với độ 3-4 có nguy cơ cao gây hẹp sau này.

II. Phương pháp phẫu thuật điều trị hẹp thực quản

Phẫu thuật hẹp thực quản được lựa chọn khi điều trị nội khoa không thành công hoặc các triệu chứng quá nặng. Có hai phương pháp chính: phẫu thuật nội soi (ít xâm lấn) và phẫu thuật mở (xâm lấn cao). Tạo hình đại tràng thay thế thực quản là kỹ thuật hiện đại, sử dụng đoạn đại tràng để thay thế phần thực quản bị tổn thương. Kỹ thuật này mang lại kết quả điều trị tốt hơn so với các phương pháp truyền thống. Lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào mức độ tổn thương, tình trạng sức khỏe bệnh nhân, và kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật.

2.1. Phẫu thuật nội soi thay thế thực quản

Phẫu thuật nội soi sử dụng hệ thống camera để quan sát và phẫu tích thực quản với những rạch da nhỏ. Ưu điểm là ít chấn thương, phục hồi nhanh, thời gian nằm viện ngắn. Tuy nhiên, kỹ thuật này yêu cầu kỹ năng cao từ phẫu thuật viên và thiết bị hiện đại. Phương pháp này đặc biệt phù hợp với các trường hợp hẹp mức độ vừa và bệnh nhân có sức khỏe tốt.

2.2. Phẫu thuật mở và tạo hình đại tràng

Phẫu thuật mở cắt toàn bộ thực quản và dạ dày bị tổn thương, sau đó sử dụng đoạn đại tràng trái để thay thế. Đây là kỹ thuật phổ biến và đã được chứng minh có hiệu quả cao. Các miệng nối được thực hiện ở vùng cổ, bụng hoặc ngực tùy theo phương pháp tiếp cận. Thời gian mổ thường từ 3-5 giờ, nhưng tỷ lệ thành công đạt 85-90%.

III. Đánh giá kết quả và biến chứng sau mổ

Đánh giá kết quả phẫu thuật hẹp thực quản bao gồm khả năng ăn uống, chất lượng sống, và tỷ lệ biến chứng. Bệnh nhân phục hồi khả năng nuốt sau 2-4 tuần, với 80-90% đạt mục tiêu ăn uống bình thường. Thời gian ăn lại sau mổ là chỉ số quan trọng để đánh giá sự hồi phục. Tuy nhiên, phẫu thuật hẹp thực quản không phải lúc nào cũng không có biến chứng, bao gồm rò nối, hẹp lại, nhiễm trùng, hoặc tử vong. Tỷ lệ biến chứng đạt 20-30% tùy theo phương pháp và kinh nghiệm của nhóm phẫu thuật.

3.1. Kết quả chức năng và hồi phục sau phẫu thuật

Khả năng ăn uống là tiêu chí chính đánh giá thành công của phẫu thuật. Phần lớn bệnh nhân có thể ăn thường sau 1-2 tháng phẫu thuật. Thời gian trung tiện lại bình thường từ 3-5 ngày sau mổ. Thời gian nằm viện trung bình 7-14 ngày tùy vào phương pháp phẫu thuậtmức độ biến chứng. Bệnh nhân cần thực hiện điều dưỡng sau mổ cẩn thận để tránh các biến chứng.

3.2. Các biến chứng và yếu tố ảnh hưởng đến kết quả

Biến chứng phổ biến sau phẫu thuật hẹp thực quản gồm rò miệng nối (3-15%), hẹp lại (5-10%), viêm phổi (10-20%), và tử vong (2-5%). Chỉ số BMI, tuổi tác, tình trạng sức khỏe ASA ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Bệnh nhân tuổi cao, sức khỏe yếu, hoặc béo phìtỷ lệ biến chứng cao hơn. Kinh nghiệm của nhóm phẫu thuật cũng là yếu tố quan trọng.

IV. Đánh giá so sánh các phương pháp phẫu thuật

So sánh phương pháp phẫu thuật giúp lựa chọn giải pháp tốt nhất cho từng bệnh nhân. Phẫu thuật nội soi có ưu điểm ít xâm lấn nhưng hạn chế về kỹ thuật trong những trường hợp tổn thương nặng. Phẫu thuật mở tạo hình đại tràng mang lại kết quả dài hạn tốt hơn với tỷ lệ thành công cao (85-90%). Thời gian phẫu thuật trung bình 3-5 giờ, tỷ lệ tử vong 2-5% và biến chứng 20-30%. Các nghiên cứu gần đây cho thấy phẫu thuật nội soi kết hợp phẫu thuật mở (hybrid approach) đem lại cân bằng tốt giữa xâm lấnhiệu quả. Sự lựa chọn phương pháp phẫu thuật cần cân nhắc mức độ tổn thương, điều kiện cơ sở vật chất, kinh nghiệm nhóm phẫu thuậtmong muốn bệnh nhân.

4.1. So sánh hiệu quả giữa các kỹ thuật phẫu thuật

Phẫu thuật nội soi đạt tỷ lệ thành công 70-85%, nhưng hạn chế với hẹp nặng. Phẫu thuật mở đạt tỷ lệ thành công 85-95%, thích hợp hơn với tổn thương phức tạp. Hybrid approach kết hợp ưu điểm của cả hai phương pháp, đang trở thành xu hướng mới trong điều trị hẹp thực quản. Thời gian phục hồi ngắn hơn với nội soi, nhưng dài hạn phẫu thuật mở cho kết quả ổn định hơn.

4.2. Xu hướng và khuyến cáo trong thực tiễn hiện đại

Xu hướng hiện tạicá nhân hóa điều trị dựa trên đặc điểm bệnh nhân. Khuyến cáo sử dụng phẫu thuật nội soi cho hẹp mức độ nhẹ-vừa, còn phẫu thuật mở cho hẹp nặng hoặc hẹp lại. Đánh giá lâm sàng toàn diện trước mổ là rất quan trọng để chọn phương pháp tối ưu nhất, nâng cao kết quả điều trịchất lượng sống bệnh nhân.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hẹp thực quản do hóa chất là một biến chứng mãn tính gặp phải do bệnh nhân nuốt nhầm hóa chất1. Việc nuốt phải các hóa chất có tính axit hoặc kiềm có thể gây ra các tổn thương nghiêm trọng trong thực quản và dạ dày. Mức độ tổn thương cho cơ thể người nuốt phải được xác định bởi bản chất của hóa chất (mức độ ăn mòn), lượng tiêu thụ hoặc nồng độ, trạng thái (rắn hoặc lỏng), và thời gian hóa chất tiếp xúc với niêm mạc đường tiêu hóa2,3,4. Theo Hiệp hội Kiểm soát chất độc Hoa Kỳ (AAPCC), hằng năm có khoảng 5.000 trường hợp nuốt phải hóa chất tại Hoa Kỳ5.

Mặc dù ít phổ biến hơn các nước phương Tây, nhưng tổn thương thực quản gây ra do nuốt phải hóa chất được báo cáo đang gia tăng và là nguyên nhân thường gặp nhất gây hẹp thực quản ở các nước đang phát triển6,7. Hầu hết các trường hợp nuốt phải hóa chất được báo cáo trên thế giới xảy ra ở bệnh nhi là do vô tình, tuy nhiên các trường hợp liên quan đến người lớn thì nguyên nhân chủ yếu do cố gắng tự tử8 và các tổn thương nghiêm trọng đối với thực quản và dạ dày được báo cáo ở người lớn chủ yếu là do tiêu thụ phải một lượng lớn các hóa chất, đặc biệt là ở những người cố gắng tự tử2. Trên thế giới đã có nhiều công trình báo cáo về bệnh lý hẹp thực quản do hóa chất nhưng vẫn chưa đạt được sự đồng thuận trong phương pháp phẫu thuật điều trị tối ưu9. Tại Việt Nam, các báo cáo về bệnh lý hẹp thực quản do hóa chất còn rất ít và các đánh giá về phẫu thuật điều trị bao gồm phẫu thuật điều trị cắt thực quản toàn bộ, hoặc phẫu thuật dùng đại tràng thay thế thực quản, cũng như nong thực quản sau hẹp vẫn còn hạn chế.

Nguyên nhân có thể do đây là một bệnh lý còn hiếm tại Việt Nam và các trường hợp bệnh thì phần lớn không được báo cáo đầy đủ.Với sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là CT scan cũng như sự phát triển về phẫu thuật, đã hỗ. 2 trợ rất nhiều trong việc chẩn đoán và điều trị đối với bệnh lý hẹp thực quản do hóa chất. Hiện nay các phương pháp điều trị hẹp thực quản do hóa chất vẫn chưa được xác định phương pháp nào là tối ưu, có thể kể đến phương pháp cắt toàn bộ thực quản tạo hình bằng dạ dày hay phương pháp dùng đại tràng thay thế thực quản hoặc tạo hình đoạn thực quản hẹp nhỏ tại chỗ bằng phương pháp xẻ dọc khâu ngang. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm biết rõ hơn về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các phương pháp phẫu thuật đặc biệt là phương pháp phẫu thuật dùng đại tràng trái thay thế thực quản trong điều trị hẹp thực quản do hóa chất là phương pháp khả thi an toàn và tiện lợi nhất hay không.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh lý hẹp thực quản do hóa chất. Mô tả phương pháp phẫu thuật điều trị hẹp thực quản do hóa chất.Xác định tỉ lệ tai biến, biến chứng, kết quả sớm của phẫu thuật dùng đại tràng trái thay thế thực quản trong điều trị hẹp thực quản do hóa chất. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu học thực quản 1.1 Phân đoạn thực quản Thực quản là một cấu trúc hình ống nằm giữa hầu và chỗ nối thực quản- dạ dày, theo Ủy ban liên kết ung thư Hoa Kỳ, thực quản chia thành 4 đoạn10- 12 : - Thực quản cổ: bắt đầu ở bờ dưới sụn nhẫn và kết thúc ở lỗ trên lồng ngực ngang mức hõm ức.

Thực quản cổ nằm cạnh khí quản, bao cảnh và cột sống. Chiều dài của thực quản cổ khác nhau theo thể trạng cơ thể, giới tính và tuổi; trên nội soi, thực quản cổ được tính là cách cung răng từ 15 cm đến <20 cm. Nếu bệnh nhân không được nội soi tiêu hóa trên, vị trí của thực quản được xác định bằng chụp cắt lớp điện toán. - Thực quản ngực (1/3) trên: bắt đầu ở lỗ vào của lồng ngực và kết thúc ở bờ dưới tĩnh mạch đơn.

Ở phía trước và hai bên, có khí quản, các cung mạch máu và các tĩnh mạch lớn bao quanh. Phía sau là cột sống. Qua nội soi tiêu hóa, thực quản ngực trên là đoạn cách cung răng 20 cm đến <25 cm. - Thực quản ngực (1/3) giữa: là đoạn từ bờ dưới tĩnh mạch đơn đến tĩnh mạch phổi dưới.

Thực quản ngực giữa nằm giữa rốn phổi ở phía trước, động mạch chủ xuống ở bên trái, cột sống ở phía sau và màng phổi ở bên phải. Qua nội soi tiêu hóa, thực quản ngực giữa là đoạn cách cung răng 25 cm đến <30 cm. - Thực quản ngực (1/3) dưới và chỗ nối thực quản dạ dày: là đoạn từ tĩnh mạch phổi dưới đến dạ dày bao gồm cả chỗ nối thực quản dạ dày. Thực quản ngực dưới liên quan phía trước là màng ngoài tim, phía sau.

5 là cột sống và bên trái là động mạch chủ xuống. Qua nội soi tiêu hóa, thực quản ngực dưới là đoạn cách cung răng 30 cm đến <40 cm.1 Phân chia thực quản trên nội soi theo AJCC lần thứ 7, 2010 “Nguồn: Zhigang Li và cộng sự, 2012”13 .2 Thành thực quản “Nguồn: Stephen B. Edge và cộng sự, 2010” 10 Thành thực quản có 4 lớp10,11: - Lớp niêm mạc: gồm biểu mô, lớp cận niêm và lớp cơ niêm. Biểu mô của thực quản được ngăn cách với các lớp còn lại bởi màng đáy.

Niêm mạc thực quản có thể được chia thành m1 (biểu mô), m2 (lớp cận niêm) và m3 (cơ niêm) - Lớp dưới niêm mạc: được chia thành 1/3 trong (sm1), 1/3 giữa (sm2) và 1/3 ngoài (sm3). - Lớp cơ: gồm cơ vòng bên trong và cơ dọc ở ngoài. - Lớp áo ngoài: thực quản không có thanh mạc mà chỉ có lớp áo ngoài (mô liên kết quanh thực quản) phủ trực tiếp lên lớp cơ.2 Mạch máu và bạch huyết Động mạch: Thực quản cổ nhận máu nuôi chủ yếu từ động mạch giáp dưới. Thực quản ngực dưới quai động mạch chủ được cấp máu bởi 2 hệ động mạch: động.

7 mạch phế quản phải tách ra từ động mạch liên sườn một, động mạch phế quản trái cho một hoặc nhiều nhánh bên cấp máu cho mặt sau bên trái thực quản14. Phần thực quản bụng được cấp máu bởi động mạch hoành dưới trái, nhánh thực quản tâm phình vị trước và sau của động mạch vị trái, nhánh tâm vị thực quản của động mạch lách15. Sau khi đi vào thành thực quản, các mạch máu chia nhánh theo kiểu vuông góc để tạo nên đám rối mạch máu dọc thực quản. Đám rối mạch máu này cung cấp lượng máu nuôi dưỡng dồi dào và cho phép di động thực quản từ dạ dày đến quai động mạch chủ mà không sợ thiếu máu16.

Tĩnh mạch: Hệ thống tĩnh mạch thực quản xuất phát từ các mao mạch, toả ra trên thành thực quản 2 đám rối tĩnh mạch, đám rối dưới niêm mạc và đám rối tĩnh mạch cạnh thực quản. Ở cổ, tĩnh mạch thực quản đổ về tĩnh mạch giáp dưới. Ở ngực, tĩnh mạch thực quản đổ về các tĩnh mạch phế quản, tĩnh mạch đơn và bán đơn. Ở bụng, tĩnh mạch thực quản đổ về tĩnh mạch vị trái15.3 Động mạch cung cấp cho thực quản “Nguồn: Frank H.

Netter, 2014”14 Bạch huyết: Bạch huyết của thực quản được dẫn lưu trong thành thực quản và theo chiều dọc. Hệ thống bạch huyết của thực quản tập trung chủ yếu ở lớp dưới niêm mạc, tuy nhiên các ống bạch huyết của thực quản cũng có ở lớp cận niêm Các hạch ở cổ nằm ở giữa và dưới của chuỗi hạch cảnh trong, các hạch. 9 nằm ở chỗ chia nhánh của động mạch giáp dưới. Các hạch ở ngực nằm cạnh khí phế quản, đám hạch ở ngã ba khí phế quản, hạch sau của cuống phổi phải, hạch nằm giữa động mạch chủ và thực quản, hạch nằm trước thực quản.

Chuỗi hạch tại bụng ở tâm vị, chuỗi hạch vành vị, chuỗi hạch thân tạng. Về dẫn lưu bạch huyết, từ các hạch của chặng đầu tiên, bạch huyết được dẫn về đổ vào hợp lưu tĩnh mạch cảnh trong - dưới đòn (bên phải). Các hạch cạnh phần thấp thực quản ngực đổ trực tiếp vào ống ngực hoặc vào bể Pecquet qua các hạch tạng10,11,14.4 Dẫn lƣu tĩnh mạch của thực quản “Nguồn: Frank H.5 Bạch huyết của thực quản “Nguồn: Frank H.3 Phân bố thần kinh thực quản Thực quản và các đoạn khác của hệ tiêu hoá được 2 hệ thần kinh điều khiển, có hoạt động đối lập nhau, là hệ giao cảm và hệ phó giao cảm. Thần kinh giao cảm: thần kinh giao cảm là các sợi sau hạch tách từ 5 hạch ngực trên của chỗi hạch giao cảm cạnh cột sống đi vào chi phối cho thực quản.

Hệ giao cảm làm co mạch, co cơ thắt và dãn cơ thành ống tiêu hoá. Hệ phó giao cảm làm tăng tiết các tuyến và tăng nhu động ống tiêu hoá18.4 Liên quan của thực quản Lấy thực quản làm mốc thì phía trước ở trên là khí quản, ở dưới là tâm nhĩ trái và xoang chếch màng ngoài tim. Phía sau thực quản, ở giữa là ống ngực, bên trái là động mạch chủ ngực và các tĩnh mạch bán đơn, còn bên phải. 11 là tĩnh mạch đơn.

Sau nữa và ở xa hai bên sườn cột sống ngực là chuỗi hạch giao cảm ngực. Hai bên thực quản là dây thần kinh X nhưng xuống dưới thì dây trái đi ra trước còn dây phải đi ra phía sau thực quản. Tất cả các thành phần trên được bao quanh bởi một tổ chức tế bào mỡ dày mỏng tùy chỗ, các tổ chức này liên tiếp với các tổ chức tế bào ở nền cổ, ở trung thất trước và ở dưới ph c mạc.6 Các dây thần kinh X “Nguồn: Richard L. Drake và cộng sự, 2015”18 Độn mạch ch n ực: tiếp tục cung động mạch chủ ngang mức đốt sống ngực 4.

Mới đầu nằm sát bờ trái thân các đốt sống, dần dần đi vào gần đường giữa rồi chui qua lỗ động mạch chủ của cơ hoành ở ngang mức bờ dưới đốt sống ngực 12 để nối tiếp với động mạch chủ bụng. 12 ĩnh mạch ơn: là hệ thống tĩnh mạch nối tĩnh mạch chủ dưới với tĩnh mạch chủ trên và nhận máu chủ yếu ở thành ngực. Hệ tĩnh mạch đơn gồm một tĩnh mạch chính là tĩnh mạch đơn và các ngành phụ là tĩnh mạch bán đơn, tĩnh mạch bán đơn phụ và các tĩnh mạch gian sườn.7 Thực quản nhìn từ khoang màng phổi phải “Nguồn: Miguel A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ