CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tầm quan trọng trong xuất khẩu dịch vụ của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và phân loại dịch vụ của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ của Ngân hàng thương mại [6], [32], [33] Theo lý thuyết về Marketing, con người thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của mình bằng hàng hoá và dịch vụ, hàng hoá và dịch vụ ñược gọi chung bằng thuật ngữ “sản phẩm”.
Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không phải chủ yếu từ việc sở hữu chúng mà chính từ việc có ñược những dịch vụ mà chúng ñem lại. Các sản phẩm vật chất thực sự là những phương tiện phục vụ con người. Thực chất, dịch vụ còn do những yếu tố khác ñảm bảo, như con người, ñịa ñiểm, các hoạt ñộng, tổ chức và các ý tưởng. Dịch vụ có thể ñược hiểu là các phương tiện có khả năng thoả mãn mong muốn hay nhu cầu của con người.
* Bản chất của dịch vụ: Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung ứng cho bên kia, có ñặc ñiểm là vô hình và không dẫn ñến việc chuyển nhượng quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất; Dịch vụ là một quá trình hoạt ñộng bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với người sử dụng hoặc tài sản của người sử dụng. * Bản chất dịch vụ của NHTM: Dịch vụ của NHTM là một bộ phận chủ yếu của dịch vụ tài chính. Hiệp ñịnh GATS chưa có ñịnh nghĩa về dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ của NHTM nói riêng, nhưng qua các hiệp ñịnh song phương về thương mại hoặc những thoả thuận về mở cửa thị trường trong việc gia nhập WTO có thể thấy dịch vụ của NHTM ñược phân loại khá chi tiết.
Tuy nhiên, dịch vụ của NHTM luôn ñổi mới và phát 10 triển ña dạng theo nhu cầu của nền kinh tế nên khó thống kê ñầy ñủ các loại dịch vụ này trong hoạt ñộng của NHTM. Dịch vụ của NHTM là loại hình dịch vụ chất lượng cao, ñòi hỏi nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ phải có trình ñộ nhất ñịnh mới có thể sử dụng và vận hành ñược. Nhiều trong số các loại dịch vụ của NHTM này tạo ra giá trị gia tăng cao cho cả người sử dụng dịch vụ và nền kinh tế. Trong xu hướng phát triển dịch vụ của NHTM tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, NHTM ñược coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tuỳ theo trình ñộ phát triển của NHTM.
Ở nước ta có nhiều quan ñiểm khác nhau về dịch vụ của NHTM: Quan ñiểm 1: Một số ý kiến cho rằng, các hoạt ñộng sinh lời của NHTM ngoài hoạt ñộng cho vay thì ñược gọi là hoạt ñộng dịch vụ. Quan ñiểm này phân ñịnh rõ hoạt ñộng tín dụng, một hoạt ñộng truyền thống và chủ yếu của các NHTM Việt Nam với hoạt ñộng dịch vụ. Sự phân ñịnh như vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, Ngân hàng như hiện nay cho phép các NHTM thực thi chiến lược tập trung ña dạng hoá, phát triển và nâng cao các hoạt ñộng dịch vụ phi tín dụng. Quan ñiểm 2: Tất cả các hoạt ñộng cung cấp dịch vụ của NHTM cho khách hàng ñều ñược coi là hoạt ñộng dịch vụ.
Kinh doanh dịch vụ của NHTM là một loại hình kinh doanh tiền tệ thông qua hoạt ñộng cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Quan ñiểm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong hiệp ñịnh mà Việt Nam cam kết, ñàm phán trong quá trình gia nhập WTO; phù hợp với nội dung hiệp ñịnh thương mại Việt Mỹ; phù hợp với cách phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Thực tiễn gần ñây, khái niệm về dịch vụ của NHTM phù hợp với thông lệ quốc tế ñang trở nên phổ biến trên các diễn ñàn, trong giới nghiên cứu và cơ quan lập chính sách. Luận án thống nhất lựa chọn phân tích dịch vụ của NHTM theo quan ñiểm 2 - Tất cả các hoạt ñộng cung cấp dịch vụ của NHTM cho khách hàng ñều ñược coi là hoạt ñộng dịch vụ.
11 Trong môi trường cạnh tranh ngày các khốc liệt, các hoạt ñộng cung cấp dịch vụ của NHTM cho khách hàng ña dạng, với chất lượng cao là một ưu thế trong cạnh tranh của mỗi NHTM. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống ñem lại thu nhập chính cho NHTM, mỗi NHTM hiện ñang nỗ lực phát triển các dịch vụ mới ñể ña dạng hoá các loại hình cung cấp dịch vụ nhằm hướng tới việc cung cấp dịch vụ trọn gói, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho NHTM. Phân loại dịch vụ của Ngân hàng thương mại NHTM là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý quỹ ra công chúng, ñồng thời NHTM cũng thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế. Thành công của NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cung cấp các dịch vụ mà xã hội có nhu cầu với một mức giá cạnh tranh.
Hầu hết các NHTM ñều cung cấp rất nhiều các dịch vụ khác nhau với nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, tuy nhiên một số loại hình dịch vụ chính và chủ yếu của một NHTM ñược phân loại như sau: a. Dịch vụ huy ñộng vốn Dịch vụ huy ñộng vốn là một dịch vụ của NHTM. NHTM thực hiện kinh doanh tiền tệ chủ yếu không phải bằng vốn tự có của mình, mà chủ yếu bằng vốn của người gửi tiền. Vì vậy, dịch vụ huy ñộng vốn là một dịch vụ cơ bản, quan trọng ñầu tiên ñối với một NHTM.
Dịch vụ này bao gồm: Dịch vụ nhận tiền gửi; Dịch vụ phát hành giấy tờ có giá, phát hành trái phiếu. Dịch vụ tín dụng Dịch vụ tín dụng là một dịch vụ của NHTM. ðây là dịch vụ khá quan trọng và là nguồn thu nhập chủ yếu của NHTM. Dịch vụ tín dụng ñược thực hiện tốt, NHTM sẽ vững mạnh và phát triển, ngược lại NHTM sẽ khó phát triển và có thể ñi ñến chỗ phá sản.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, dịch vụ tín dụng của NHTM ngày càng phát triển, ña dạng về hình thức, thể loại, phương thức. Một số hình thức cung cấp chủ yếu của dịch vụ tín dụng là: Cho vay; Dịch vụ tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền; Dịch vụ cho thuê tài chính. Dịch vụ thanh toán 12 Dịch vụ thanh toán là một dịch vụ của NHTM. ðây là dịch vụ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt ñộng của NHTM, nó tạo ñiều kiện cho nhiều dịch vụ khác của NHTM phát triển.
Nhìn vào hệ thống thanh toán của một NHTM người ta có thể ñánh giá ngay ñược hoạt ñộng của NHTM ñó có hiệu quả hay không, do vậy dịch vụ thanh toán của NHTM luôn ñược cải tiến và áp dụng những công nghệ mới nhất. Dịch vụ này bao gồm: Dịch vụ chuyển tiền trong nước; Dịch vụ chuyển tiền quốc tế. Các loại hình dịch vụ khác: Các loại hình dịch vụ khác chủ yếu như: Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ; Dịch vụ ñầu tư tài chính; Dịch vụ bảo lãnh; Dịch vụ quản lý thu chi tiền mặt. Vai trò xuất khẩu dịch vụ của Ngân hàng thương mại ñối với nền kinh tế quốc dân Quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam, trong môi trường kinh tế ñổi mới, chính trị và xã hội ổn ñịnh, dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ cũng khởi sắc.
Từ chỗ chỉ có số dịch vụ “ñếm trên ñầu ngón tay” và do các doanh nghiệp Nhà nước ñộc quyền kinh doanh, thậm chí có ngành ñược ñặt trong sự giám sát ñặc biệt, ngày nay ñã có nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia, trong ñó có các doanh nghiệp có vốn ñầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các NHTM ñã tạo nên diện mạo mới cho dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam. Danh mục sản phẩm dịch vụ kéo dài, trong ñó có sự xuất hiện và bứt phá của những ngành có hàm lượng chất xám cao, ñược thừa hưởng từ thành quả của sự bùng nổ công nghệ thông tin. Hiện có tới khoảng 70 loại hình dịch vụ của Việt Nam ñã ñược xuất khẩu, mỗi loại hình lại gồm nhiều hoạt ñộng cụ thể. Ví dụ như: “dịch vụ tư vấn” gồm tư vấn về quản lý, tư vấn về xây dựng, tư vấn về thương mại quốc tế.
Các cơ sở dịch vụ ñược nâng cấp, xây mới khang trang, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hướng dần tới trình ñộ khu vực, quốc tế. Thị trường xuất khẩu dịch vụ ngày càng mở rộng. Sản phẩm ñã có vị thế nhất ñịnh trên trường quốc tế như gia công phần mềm cho Nhật Bản - ñứng thứ 4 (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn ðộ). Ngân hàng ñầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) cũng ñã có những Chi nhánh ñầu tiên ở nước ngoài.
Tổng Công ty Viễn thông quân ñội (Viettel) với việc ñầu tư mạng viễn thông vào Cam-pu-chia và Lào 13 ñã trở thành doanh nghiệp viễn thông ñầu tiên vươn ra nước ngoài. Du lịch Việt Nam cũng ñang trên ñường phát triển vì “Việt Nam là ñiểm ñến của thiên niên kỷ mới”, ñội ngũ quản lý ñiều hành, chuyên gia kỹ thuật, nhân viên tác nghiệp của ngành ngày càng ñông ñảo, bước ñầu tiếp thu ñược khoa học và kỹ năng nghề nghiệp. Những thành phố lớn, các trung tâm kinh tế hàng ñầu là những trọng ñiểm về xuất khẩu dịch vụ nói chung và xuất khẩu dịch vụ của NHTM nói riêng. Khách hàng sử dụng dịch vụ xuất khẩu nhiều, trong ñó nhiều khách hàng là các tập ñoàn toàn cầu ñến từ các nền kinh tế phát triển.
Trong những năm vừa qua, xuất khẩu dịch vụ ñã góp phần tạo nguồn vốn chủ yếu ñể nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. ðể phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện ñại hoá ñất nước, cần phải có một nguồn ngoại tệ lớn ñể nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện ñại. Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ các nguồn: xuất khẩu, ñầu tư nước ngoài, vay vốn, viện trợ, thu từ hoạt ñộng du lịch, xuất khẩu lao ñộng và các dịch vụ khác có thu ngoại tệ. Mặt khác, xuất khẩu dịch vụ cũng góp phần ñáng kể vào chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc ñẩy sản xuất phát triển.