CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (Quốc hội, 2005). Có thể chia du lịch theo mục đích chuyến đi bao gồm du lịch sinh thái, văn hóa, âm thực, nghỉ dưỡng và cộng đồng (Nguyễn Thị Thanh Mỹ và cộng sự, 2006). Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc du lịch với những mục đích như nghiên cứu, tham quan, thưởng ngoạn phong cảnh, động thực vật hoang dã, cũng như khám phá nét đẹp văn hoá trong những khu vực này (Ceballos-Lascurain, 2008).
Trong số các loại hình du lịch, du lịch sinh thái là hình thức phát triển du lịch bền vững, bởi vì nó có mối quan hệ chặt chẽ với tai nguyên thiên nhiên và văn hóa (Stefanica and Vlavian-Gurmeza, 2010). Với tiềm năng, lợi thế về tự nhiên và văn hóa, số lượng khách du lịch đến huyện Cần Giờ, TPHCM đã tăng đáng kể. Trong năm 2023, tông lượt khách du lịch đến huyện đạt 3,8 triệu lượt, tăng 26% so với năm 2022 (Tổng cục Du lịch, 2023). Với tầm nhìn đến năm 2030, huyện phan đấu nâng cao tong lượng khách du lịch đạt 49 triệu lượt, tốc độ tăng bình quân 12,5%/năm.
Ngoài ra, huyện còn tập trung xây dựng và phát triển ngành du lịch trong đó du lịch sinh thái nghỉ dưỡng chất lượng cao là mũi nhọn. Tuy nhiên, huyện còn tồn tại nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng chăng hạn như đường giao thông chưa được đầu tư, nâng cấp, cải thiện và cơ sở lưu trú, nhà hàng, các tiện ích phục vụ du khách chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn (UBND huyện Cần Giờ, 2021). Ngoài ra, du khách thường gặp khó khăn trong việc tìm hiểu các địa điểm du lịch, lên kế hoạch va di chuyển trong khu vực. Bản đồ và sách hướng dẫn không đáp ứng đủ các yêu cầu như cung cấp các điểm du lịch giá rẻ, phong cảnh đẹp và lộ trình di chuyên ngắn nhất (Tien et al.
Vi vậy, phát triển một hệ thống thông tin du lịch hiện đại và tiện ích là cần thiết để giúp khách du lịch tận hưởng và khám phá Cần Giờ một cách dễ dàng và thuận tiện hơn. WebGIS là hệ thong thông tin dia ly dựa trên nén tang web, két hop đữ liệu địa lý và công nghệ thông tin dé cung cấp thông tin địa lý và dich vụ liên quan trên môi trường web (Fu and Sun, 2010). Thông qua công nghệ WebGIS, du khách có thể xác định vị trí hiện tại, tìm đường đi ngắn nhất giữa các điểm du lịch và thông tin chỉ tiết về tuyến 1 đường, giúp tối ưu hóa quá trình di chuyển. Ngoài ra, WebGIS còn giúp quản lý và phân tích thông tin du lịch, như thống kê số lượng khách du lịch, đánh giá hiệu quả và xác định xu hướng phát triển du lịch.
Với những ưu điểm trên, WebGIS đã được nghiên cứu, ứng dụng trong phát triển du lịch tại một số địa phương trong nước như thành phố Đà Nẵng (Lê Hữu Liêm, 2011), thành phố Hồ Chi Minh (Trung tâm Xúc tiến Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, 2021) và các tỉnh Quảng Trị (Nguyễn Quang Tuấn và cộng sự, 2010), Bình Thuận (Phạm Thị Phép, 2013), Thái Bình (Nguyễn Mạnh Hà, 2017), Quảng Bình (Nguyễn Quốc Huy và cộng sự, 2019). Trên thế giới, một số quốc gia đã ứng dụng WebGIS trong phát triển du lịch như Nigeria (Fajuyigbe et al. Có thé thay các trang WebGIS du lich đã góp phan cải tiến trải nghiệm người dùng trong việc tiếp cận và truy vấn thông tin du lịch. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện có chỉ tập trung vào các tính năng truy vấn, tìm kiếm mà bỏ qua tính năng dẫn đường, một tính năng quan trọng cho việc tối ưu hóa lộ trình di chuyển của du khách.
Xuất phát từ các lý do trên, đề tài “Phát triển WebGIS hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” đã được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung là phát triển WebGIS hỗ trợ tìm đường, quảng bá, tiếp cận thông tin trực tuyến về du lịch trên địa bàn huyện Cần Giờ. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Phân tích, thiết kế, xây đựng CSDL du lịch lưu trữ thông tin về địa điểm du lịch, cơ sở lưu trú, cơ sở âm thực, giao thông đường bộ, giao thông đường thủy, địa phận huyện, địa phận xã; (2) Lập trình giao diện WebGIS bao gồm: trang chủ, trang ban đồ và trang quản trị; (3) Lập trình chức năng WebGIS bao gồm: điều hướng bản đồ, định vị, đo khoảng cách, tìm kiếm địa điểm, chỉ dẫn đường đi, thay đổi ban đồ nền, xem thông tin (lớp nền địa lý, thời tiết hiện tại và dự báo, du lịch), quan lý người dùng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là khách du lịch và thông tin du lịch tại huyện Cần Giờ bao gồm: địa điểm du lịch; cơ sở lưu trú; cơ sở âm thực.
Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tong quan du lich sinh thai 2. Khai niém du lich Cùng với su phat triển của du lịch, khái niệm du lịch được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét.
Theo Coltman (1989), du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch. Tại Việt Nam, Luật Du lịch (Quốc hội, 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Loại hình du lịch Du lịch được chia thành 6 loại hình chủ yếu như sau: du lịch theo mục đích chuyến đi, theo đặc điểm địa lý, theo thời gian hành trình, theo phương tiện, theo lãnh thé hoạt động, theo hình thức tô chức (Quốc hội, 2005). Nghiên cứu này tập trung vào loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi bao gồm du lịch sinh thái, văn hóa, âm thực, nghỉ đưỡng và cộng đồng (Nguyễn Thị Thanh Mỹ và cộng sự, 2006).
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững (Quốc hội, 2005). Loại hình du lịch này ngày càng được chú trọng bởi tính bền vững và ít có sự tác động tiêu cực đến môi trường - yếu tố mà các hình thức du lịch khác khó làm được (Robinson et al. Du lịch văn hóa là loại hình du lịch đưa du khách đến tham quan di tích, địa điểm văn hoá của một quốc gia hay vùng miền cụ thể (Vũ Thị Quỳnh Anh và Trần Phạm Huyền Trang, 2022). Du lịch ầm thực là loại hình du lịch mà du khách không chỉ được trải nghiệm các món ăn, đồ uống mà là cả các trải nghiệm bản sắc văn hóa, cuộc sông của cộng đồng tại điểm đến qua câu chuyện của từng món ăn, đồ uống đó (Vũ Thị Quỳnh Anh và Trần Phạm Huyền Trang, 2022).
Du lịch nghỉ dưỡng đem đến sự thoải mái, thư giãn cho du khách sau khoảng thời gian mệt mỏi, đây cũng là loại hình du lịch được ưa chuộng nhất cho những chuyên đi dài (Robinson et al. Du lịch cộng đồng là một 3 loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tô chức, quản lý và làm chủ dé đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung, thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (Robinson et al. Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái được định nghĩa là một loại hình du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc du lịch với những mục đích như: nghiên cứu, tham quan, thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những nét đẹp văn hoá (cả quá khứ và hiện tai) được khám phá trong những khu vực này (Ceballos-Lascurain, 2008). Trong số các loại hình du lịch, du lịch sinh thái là đại diện cho hình thức phát triển du lịch bền vững có giá trị nhất, bởi vì nó có mối quan hệ chặt chẽ với tài nguyên thiên nhiên và văn hóa (Stefanica and Vlavian-Gurmeza, 2010).
Ngoài ra, nó còn kéo theo các lợi ích khác về chi phí về xã hội, kinh tế và môi trường (xem Hình 2. Vị trí của du lịch sinh thái trong phát triển du lịch bằn vững (Nguyễn Phước Hoàng, 2022) Về kinh tế - xã hội, phát triển du lịch sinh thái tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển kinh tế bao gồm các công việc dịch vụ như hướng dẫn viên du lịch, khách sạn, nhà hàng và vận tải (Reimer and Walter, 2013). Ngoài ra, phát triển du lịch còn giúp thúc đây mức sông, làm phong phú thêm về các nên văn hóa khác nhau và cải thiện cơ sở hạ tang 4 cũng như cải thiện tình hình kinh tế của các hộ dân khó khăn có trong khu vực (Liu et al. Do đó, du lịch sinh thái như một giải pháp phát triển kinh tế của khu vực nói chung và dân địa phương nói riêng.
Về môi trường, phát triển du lịch sinh thái là cũng là một cách thức đề tuyên truyền bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên (Motlagh et al., 2020), vì loại hình du lịch này bao gồm các yếu tô về bảo tồn và giáo dục môi trường. Đặc điểm nổi bật của du lịch sinh thái là sự tương tác hài hòa giữa con người và thiên nhiên, tạo ra một môi trường bền vững và tăng cường giá trị đa dạng sinh học. Du lịch sinh thái đặt sự tôn trọng và bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu. Điều này thể hiện qua việc quản lý bền vững các khu du lịch sinh thái, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và giữ gìn nguyên vẹn các hệ sinh thái quan trọng.
Bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn bền vững và quy định rõ ràng, du lịch sinh thái đảm bảo rằng hoạt động du lịch không gây hủy hoại môi trường và không làm suy giảm sự phong phú của thiên nhiên (Nguyễn Văn Đính và Nguyễn Thị Thu Hà, 2022). Một đặc điểm khác của du lịch sinh thái là khuyến khích sự giáo dục và nhận thức môi trường.