Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngôn ngữ giữ vai trò then chốt trong quá trình hình thành, phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ mầm non. Vốn từ là thành tố cốt lõi của hệ thống ngôn ngữ, đóng vai trò là vật liệu cơ bản để hình thành câu, rèn luyện kỹ năng diễn đạt mạch lạc và phát triển tư duy nhận thức. Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học (thơ, truyện, ca dao, đồng dao) tại trường mầm non có ưu thế đặc thù trong việc trau dồi vốn từ nghệ thuật, làm giàu cảm xúc và phát triển khả năng tiếp nhận ngôn ngữ mẹ đẻ cho lứa tuổi 3 – 4 tuổi (mẫu giáo bé).

Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học tại nhiều cơ sở giáo dục mầm non, giáo viên chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ nội dung, ghi nhớ cốt truyện và nhận biết nhân vật mà chưa chú trọng đúng mức đến nhiệm vụ phát triển vốn từ. Việc cung cấp từ ngữ mới thường dừng lại ở số lượng danh từ đơn thuần (từ biểu danh), thiếu sự đào sâu vào việc chuẩn hóa phát âm, giải nghĩa từ (từ biểu niệm, từ biểu cảm), cũng như chưa có các biện pháp tích cực hóa vốn từ để trẻ vận dụng linh hoạt vào giao tiếp thường nhật. Nhiều trẻ 3 – 4 tuổi vẫn còn hạn chế về vốn từ, phát âm sai phụ âm đầu, ngọng thanh điệu, ngữ pháp câu chưa hoàn chỉnh và thụ động trong diễn đạt.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu cụ thể sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng giáo dục ngôn ngữ tại trường mầm non, từ đó xây dựng và đề xuất hệ thống các biện pháp sư phạm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cơ sở sinh lý, tâm lý, giáo dục học và ngôn ngữ học liên quan đến sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi).
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên, thực trạng sử dụng phương pháp/phương tiện và việc tiếp nhận vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại một số trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
    3. Xây dựng và đề xuất hệ thống các biện pháp tác động sư phạm chuyên biệt nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
  • Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
    • Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi.
    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động làm quen tác phẩm văn học.
  • Phạm vi và giới hạn đề tài: Đề tài tập trung vào lứa tuổi mẫu giáo 3 – 4 tuổi; không gian nghiên cứu và khảo sát thực nghiệm tại 3 trường mầm non thuộc tỉnh Thanh Hóa (Trường Mầm non Hà Lĩnh, Trường Mầm non Hà Đông thuộc huyện Hà Trung và Trường Mầm non Thực hành Hồng Đức thuộc thành phố Thanh Hóa); thời gian hoàn thành khóa luận vào tháng 05 năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành liên quan trực tiếp đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ em:

  • Cơ sở sinh lý học thần kinh: Dựa trên chức năng của vỏ não, đặc biệt là vùng Broca (vùng biểu đạt lời nói) và vùng Wernicke (vùng tiếp nhận, hiểu ngôn ngữ) nằm ở thùy thái dương. Hoạt động ngôn ngữ đòi hỏi sự phối hợp của ba khối não (khối năng lượng duy trì trương lực thức tỉnh, khối tiếp nhận và xử lý thông tin, khối điều khiển và kiểm tra). Sự hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời theo cơ chế phản xạ có điều kiện của hệ thống tín hiệu thứ hai đòi hỏi các kích thích ngôn ngữ phải được lặp đi lặp lại có chủ đích. Đặc điểm giải phẫu thanh quản của trẻ 3 – 4 tuổi ngắn, dây thanh âm mảnh, cơ quan hô hấp đang hoàn thiện khiến giọng nói trẻ cao hơn người lớn và dễ mắc lỗi phát âm.
  • Cơ sở tâm lý học: Dựa trên luận điểm của E. Tikheeva về mối quan hệ giữa cảm giác, tri giác và ngôn ngữ; đặc điểm chú ý không chủ định, trí nhớ hình tượng trực quan chiếm ưu thế; tư duy chuyển tiếp từ trực quan hành động sang trực quan hình tượng. Sự phát triển vốn từ gắn liền với quá trình hình thành biểu tượng trong trí nhớ và khủng hoảng tâm lý tuổi lên 3.
  • Cơ sở giáo dục học: Tiếp cận quan điểm "học mà chơi, chơi mà học", lấy trẻ làm trung tâm; vai trò tổ chức môi trường ngôn ngữ chuẩn mực của giáo viên mầm non (tham chiếu quan điểm của K. D. Ushinsky, E. A. Flerina, KaK-Hainodich).
  • Cơ sở ngôn ngữ học và từ vựng học tiếng Việt: Khái niệm ngôn ngữ theo chủ nghĩa Mác – Lênin, F. de Saussure; phân loại từ loại tiếng Việt thành hai nhóm (nhóm thực từ gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ; nhóm hư từ gồm phụ từ, kết từ, tiểu từ); ba chức năng cơ bản của từ (biểu danh/biểu vật, biểu niệm, biểu cảm); thang 5 mức độ lĩnh hội nghĩa khái quát của từ theo Fedorenko (từ mức độ 0 đến mức độ 4); các giai đoạn phát triển từ vựng và câu của trẻ mầm non theo nghiên cứu của Lưu Thị Lan, Nguyễn Xuân Khoa, Phan Thiều, Đinh Hồng Thái, Hoàng Thị Oanh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu khoa học về tâm lý học, giáo dục học mầm non, ngôn ngữ học tiếng Việt.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket): Khảo sát 40 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi tại 3 trường mầm non về nhận thức, cách thiết kế giáo án và việc sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ.
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ và quan sát trực tiếp 8 hoạt động làm quen với tác phẩm văn học để đánh giá thao tác sư phạm của giáo viên, việc sử dụng đồ dùng trực quan, kỹ thuật đặt câu hỏi và phản ứng ngôn ngữ của trẻ.
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích cấu trúc mục tiêu, nội dung câu hỏi và tiến trình sư phạm trong hệ thống giáo án của giáo viên.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng để kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lí luận của việc phát triển vốn từ cho trẻ Mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học

Chương I trình bày hệ thống lý luận đa chiều làm tiền đề cho đề tài:

  • Cơ sở sinh lý và tâm lý: Trình bày chi tiết cơ chế hoạt động của não bộ, cấu tạo bộ máy phát âm, thính giác ở trẻ mẫu giáo bé; sự liên kết giữa các quá trình nhận thức (tri giác, trí nhớ, tư duy, xúc cảm) với việc nắm bắt ngữ nghĩa của từ ngữ.
  • Cơ sở giáo dục học: Xác định việc phát triển vốn từ diễn ra qua hai con đường (tự nhiên và dạy học có chủ đích), trong đó tiết học làm quen với tác phẩm văn học giữ vai trò định hướng chuẩn mực và hệ thống hóa kho từ vựng.
  • Cơ sở ngôn ngữ học: Phân tích đặc trưng từ loại tiếng Việt, chỉ rõ bản chất của vốn từ tích cực (từ hiểu và sử dụng chủ động) và vốn từ thụ động (từ hiểu nhưng chưa sử dụng). Trình bày các chỉ số định lượng về dung lượng từ vựng của trẻ mẫu giáo theo các tác giả trong và ngoài nước (ND. Levitop: 1000 từ; Yu. Pratuxevich: 1900 – 2500 từ; M. Becgiơrông: 1222 từ; Nguyễn Xuân Khoa: trẻ 4 tuổi đạt 1900 – 2000 từ, trẻ 5 tuổi đạt 2500 – 2600 từ).
  • Đặc điểm ngôn ngữ trẻ 3 – 4 tuổi:
    • Cơ cấu từ loại (theo Lưu Thị Lan): Trẻ 3 tuổi có tỷ lệ danh từ chiếm 40,2%, tính từ 7,8%, trạng từ 2,4%; đến 5 tuổi danh từ giảm còn 35,52%, tính từ tăng lên 8,64%, trạng từ 3,73%; đến 6 tuổi danh từ giảm xuống 30,97% và tính từ đạt 11,64%.
    • Đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp và mức độ hiểu nghĩa: Trẻ 3 – 4 tuổi bắt đầu chuyển từ câu đơn một từ sang câu đơn mở rộng và câu ghép, tuy nhiên vẫn còn mắc lỗi ngọng các phụ âm đầu (l - n, s - x, ch - tr), các phụ âm gốc lưỡi (k, kh, g), vần khó và thanh điệu; mức độ hiểu nghĩa chủ yếu dừng ở mức 0 và mức 1 theo thang phân loại Fedorenko.

Chương II: Thực trạng việc phát triển vốn từ cho trẻ Mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học

Chương II phản ánh kết quả khảo sát thực tế tại 3 trường mầm non (MN Thực hành Hồng Đức, MN Hà Lĩnh, MN Hà Đông) trên mẫu điều tra 40 giáo viên:

  • Cơ cấu trình độ và thâm niên của mẫu khảo sát:
    • Trình độ chuyên môn: Đại học chiếm 17,5% (7 giáo viên), Cao đẳng chiếm 45,0% (18 giáo viên), Trung cấp chiếm 37,5% (15 giáo viên).
    • Thâm niên công tác: Dưới 5 năm chiếm 25,0%, từ 15 năm trở lên chiếm 20,0%; tỷ lệ giáo viên có thâm niên dạy lớp mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi) dưới 5 năm chiếm 25,0%.
  • Thực trạng nhận thức của giáo viên:
    • 75,0% (30/40 giáo viên) chỉ nhận thức mục tiêu tiết học là giúp trẻ nắm nội dung và ghi nhớ nhân vật; chỉ có 25,0% (10/40 giáo viên) nhận thức đầy đủ mục tiêu phát triển tư duy và rèn luyện ngôn ngữ.
    • 81,81% (32/40 giáo viên) chưa nắm vững đầy đủ quy trình phát triển vốn từ (chủ yếu chỉ dạy từ mới lướt qua), chỉ 18,18% (7/40 giáo viên) nắm đúng và đủ các khâu: cung cấp từ, củng cố từ và tích cực hóa vốn từ.
  • Thực trạng sử dụng biện pháp dạy học:
STT Biện pháp sư phạm được sử dụng Số lượng giáo viên (n=40) Tỷ lệ (%)
1 Biện pháp đàm thoại, trao đổi 38 95,00%
2 Biện pháp quan sát trực quan 25 63,18%
3 Biện pháp tổ chức trò chơi ngôn ngữ 11 29,54%
  • Phân tích thực trạng giáo án và dự giờ 8 hoạt động:
    • Mục tiêu giáo án soạn sơ sài, thiếu vắng hoàn toàn mục tiêu giáo dưỡng về phát triển vốn từ và rèn luyện thái độ đối với ngôn từ nghệ thuật.
    • Hệ thống câu hỏi đàm thoại chủ yếu là câu hỏi đóng dạng nhận biết ("đúng/sai", "có/không"), chưa có câu hỏi mở kích thích trẻ sử dụng cụm từ, câu phức để giải thích, bộc lộ cảm xúc.
    • Đồ dùng trực quan tại các điểm trường nông thôn (Hà Lĩnh, Hà Đông) còn nghèo nàn, kích thước chưa chuẩn, thiếu tính thẩm mỹ; giáo viên sử dụng trực quan mang tính minh họa hình thức, thiếu tính hệ thống, chưa gắn kết hình tượng thị giác với việc luyện phát âm và giải thích nghĩa từ; còn tình trạng trả lời thay trẻ khi trẻ lúng túng.

Chương III: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ Mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động Làm quen với tác phẩm văn học

Dựa trên định nghĩa về "biện pháp" theo Từ điển tiếng Việt (1992) và cơ sở thực tiễn khảo sát, tác giả đề xuất hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ:

  • Biện pháp 1: Đọc kể tác phẩm có nghệ thuật.
    • Đọc diễn cảm sáng tạo: Yêu cầu giáo viên phối hợp nhịp nhàng giữa giọng đọc với ánh mắt, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ minh họa; linh hoạt thay đổi tư thế, khoảng cách giao tiếp (đứng, ngồi gần gũi với trẻ) nhằm truyền tải trọn vẹn vẻ đẹp sinh động và hình tượng của tác phẩm.
    • Đọc nghệ thuật dưới hình thức ngâm thơ, hát ru: Khai thác giai điệu êm dịu của thể thơ lục bát, đồng dao, ca dao để giúp trẻ cảm nhận hồn thơ dân tộc và ấn tượng sâu sắc với ngữ điệu lời nói.
    • Đọc kết hợp âm nhạc: Sử dụng nhạc nền phụ họa phù hợp với tính chất, nhịp điệu của bài thơ, câu chuyện nhằm tăng cường khả năng tri giác thính giác và khắc sâu từ ngữ trong trí nhớ trẻ.
  • Biện pháp 2: Trao đổi gợi mở (đàm thoại).
    • Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở theo 4 nhóm trọng tâm:
      1. Câu hỏi hướng vào ngôn ngữ miêu tả của bài thơ/câu chuyện.
      2. Câu hỏi khai thác cảm xúc, thái độ của tác giả và nhân vật.
      3. Câu hỏi làm nổi bật các hình ảnh đẹp, câu thơ hay, giàu âm thanh, màu sắc (ví dụ: "Cháu thích nhất câu thơ nào?").
      4. Câu hỏi định hướng cảm nhận về nhịp điệu, giọng điệu tác phẩm (ví dụ: "Cô đọc bài thơ với nhịp điệu nhanh hay chậm?").
    • Khuyến khích trẻ trả lời bằng câu trọn vẹn, tự do diễn đạt cảm xúc cá nhân thay vì bắt chước máy móc.
  • Biện pháp 3: Sử dụng các hình tượng trực quan.
    • Sử dụng tranh kết hợp lời nói: Giới thiệu tranh minh họa kết hợp lời giải thích ngắn gọn, chuẩn xác ở phần mở đầu.
    • Sử dụng tranh theo tiến trình đọc: Đọc diễn cảm lần đầu không tranh để trẻ tập trung thính giác; lần 2 và lần 3 kết hợp chỉ tranh để hỗ trợ thị giác.
    • Khai thác chi tiết tranh: Hướng trẻ quan sát các gam màu, hình ảnh đặc trưng gắn liền với các từ tượng thanh, từ tượng hình, từ ngữ nghệ thuật trong văn bản.
    • Đa dạng hóa phương tiện trực quan: Ứng dụng sa bàn, mô hình nổi, rối tay, đồ vật thật, đồng thời tận dụng trang phục, điệu bộ của giáo viên như một phương tiện trực quan trực tiếp.

Chương IV: Thực nghiệm và phân tích kết quả thực nghiệm

Chương IV trình bày quy trình thiết kế và tiến hành thực nghiệm sư phạm:

  • Xác định mục đích thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả, mức độ chuyển biến về vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi khi áp dụng hệ thống biện pháp đề xuất tại Chương III so với phương pháp dạy học thông thường.
  • Thiết lập tiêu chí đánh giá sự phát triển vốn từ của trẻ theo 3 chỉ báo: khả năng phát âm chuẩn xác, khả năng hiểu nghĩa từ (từ biểu vật, biểu niệm, biểu cảm) và mức độ tích cực hóa vốn từ trong câu nói mạch lạc khi tham gia các hoạt động làm quen tác phẩm văn học.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể sau:

  • Kết quả điều tra định lượng về thực trạng: Làm rõ bức tranh thực trạng tại các trường mầm non với các con số cụ thể: 75% giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về chức năng phát triển ngôn ngữ của hoạt động LQTPVH; 81,81% giáo viên chưa thực hiện trọn vẹn quy trình 3 bước của phát triển vốn từ; tỷ lệ sử dụng biện pháp trò chơi ngôn ngữ còn rất thấp (29,54%).
  • Hệ thống hóa giải pháp sư phạm: Đề xuất được 3 nhóm biện pháp tác động đồng bộ (đọc kể nghệ thuật, đàm thoại gợi mở, sử dụng hình tượng trực quan đa dạng) được cụ thể hóa thành các kỹ thuật sư phạm chi tiết, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 3 – 4 tuổi.
  • Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn: Khóa luận kế thừa các thành tựu nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ trẻ em của các tác giả đi trước (Lưu Thị Lan, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái), đồng thời bổ sung các chỉ dẫn thực hành sư phạm trực tiếp trên thể loại văn học mầm non, giúp khắc phục tình trạng "dạy chay", áp đặt câu trả lời và xem nhẹ việc mở rộng từ loại (tính từ, động từ miêu tả, từ láy tượng thanh, tượng hình) cho trẻ mẫu giáo bé.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Đề tài chỉ giới hạn khảo sát và thực nghiệm đối với độ tuổi 3 – 4 tuổi (mẫu giáo bé), chưa mở rộng khảo sát so sánh liên thông với độ tuổi mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi) và mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).
    • Không gian khảo sát thực trạng mới chỉ thực hiện trên địa bàn 3 trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa, chưa bao quát được sự khác biệt vùng miền đa dạng (như vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu quy trình phát triển vốn từ nghệ thuật cho trẻ mầm non qua các hoạt động giáo dục khác ngoài tiết học văn học chính khóa (như hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động khám phá khoa học - xã hội).
    • Thiết kế cẩm nang ngân hàng từ vựng văn học chuyên biệt theo từng chủ đề giáo dục mầm non dành cho giáo viên đứng lớp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các đối tượng và hoạt động chuyên môn sau:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về cơ sở sinh lý - tâm lý - ngôn ngữ học của sự phát triển lời nói trẻ em; cung cấp tài liệu tham khảo để viết tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp về phân môn Làm quen tác phẩm văn học và Phát triển ngôn ngữ.
  • Giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy lớp 3 – 4 tuổi: Tham khảo hệ thống kỹ thuật đặt câu hỏi gợi mở, phương pháp đọc diễn cảm kết hợp âm nhạc, cách thiết kế và sử dụng giáo cụ trực quan (sa bàn, tranh vẽ, mô hình) nhằm nâng cao chất lượng tiết dạy làm quen tác phẩm văn học.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Sử dụng làm căn cứ đánh giá chất lượng soạn giáo án và tổ chức tiết học phát triển ngôn ngữ của giáo viên theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo cơ sở ngôn ngữ học được tác giả trình bày, từ tiếng Việt thực hiện những chức năng cơ bản nào trong việc phát triển vốn từ cho trẻ? Từ tiếng Việt thực hiện 3 chức năng chính: (1) Chức năng biểu danh (biểu vật): dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, hành động, đặc điểm, là kết quả của nhận thức cảm tính; (2) Chức năng biểu niệm: phản ánh khái niệm, bản chất của nhóm sự vật, là kết quả của tư duy bậc cao (phân tích, so sánh, khái quát hóa); (3) Chức năng biểu cảm: thể hiện thái độ, cảm xúc của người nói đối với đối tượng được đề cập.

2. Tỷ lệ cơ cấu các từ loại trong vốn từ của trẻ 3 tuổi và 5 tuổi biến đổi như thế nào theo tư liệu nghiên cứu của Lưu Thị Lan được trích dẫn trong văn bản? Theo nghiên cứu của Lưu Thị Lan: ở trẻ 3 tuổi, danh từ chiếm 40,2%, tính từ chiếm 7,8%, trạng từ chiếm 2,4%. Đến 5 tuổi, tỷ lệ danh từ giảm xuống còn 35,52%, tính từ tăng lên 8,64%, trạng từ tăng lên 3,73%. Đến 6 tuổi, danh từ tiếp tục giảm xuống 30,97% và tính từ tăng lên 11,64%.

3. Khảo sát thực trạng tại 3 trường mầm non chỉ ra tỷ lệ giáo viên chưa nhận thức đúng và đầy đủ về nhiệm vụ phát triển vốn từ là bao nhiêu? Kết quả khảo sát 40 giáo viên cho thấy có tới 81,81% (32/40 giáo viên) chưa nhận thức đầy đủ về các nhiệm vụ cần thực hiện để phát triển vốn từ cho trẻ (họ chỉ chú trọng dạy từ mới sơ sài), chỉ có 18,18% (7/40 giáo viên) nhận thức đúng và đầy đủ cả 3 nhiệm vụ: cung cấp vốn từ, củng cố vốn từ và tích cực hóa vốn từ.

4. Biện pháp "Đọc kể tác phẩm có nghệ thuật" trong Chương III bao gồm những hình thức thực hiện cụ thể nào? Biện pháp này gồm 3 hình thức: (1) Đọc diễn cảm sáng tạo kết hợp ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ và thay đổi tư thế giao tiếp phù hợp; (2) Đọc có nghệ thuật dưới hình thức ngâm thơ, hát ru bằng thơ (nhất là thể thơ lục bát); (3) Đọc có nghệ thuật kết hợp với âm nhạc nền phù hợp tính chất tác phẩm.

5. Đề tài đã khảo sát thực trạng trên những trường mầm non cụ thể nào tại tỉnh Thanh Hóa? Đề tài thực hiện khảo sát tại 3 trường mầm non: Trường Mầm non Thực hành Hồng Đức (thành phố Thanh Hóa), Trường Mầm non Hà Lĩnh và Trường Mầm non Hà Đông (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Lệ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở sinh lý, tâm lý, giáo dục học và ngôn ngữ học về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi. Kết quả khảo sát thực trạng 40 giáo viên tại 3 trường mầm non ở Thanh Hóa đã phản ánh chân thực những khoảng trống trong nhận thức và phương pháp dạy học phát triển vốn từ hiện nay. Hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm được xây dựng công phu, giàu tính thực tiễn, đóng góp giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.