Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển văn hóa tổ chức. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển văn hoá tổ chức tại Trung tâm GDTX huyện Điện Biên. Chương 3: Biện pháp phát triển văn hóa tổ chức tại Trung tâm GDTX huyện Điện Biên trong giai đoạn hiện tại. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỔ CHỨC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Một số công trình nghiên cứu về quản lý nhà trƣờng theo tiếp cận văn hoá nhà trƣờng ở nƣớc ngoài với nhiều quan niệm khác nhau: có thể quản lý nhà trƣờng dựa vào xây dựng văn hóa hợp tác, dựa vào năng lực văn hoá trong nhà trƣờng, về bầu không khí nhà trƣờng, về văn hoá mạnh trong tổ chức, v. Nhìn chung, qua các nghiên cứu về văn hóa nhà trƣờng có thể thấy rằng: Các quan niệm về quản lý nhà trƣờng theo tiếp cận văn hoá nhà trƣờng phổ thông hết sức phong phú và chƣa thật sự đồng nhất. Dƣới góc độ VHTC, tác giả Schein, E.H đã nghiên cứu một cách chi tiết về VHTC, các cấp độ cũng nhƣ biểu hiện của VHTC, sự hình thành và phát triển của văn hóa trong các loại hình tổ chức khác nhau.
Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng phân tích cụ thể vai trò lãnh đạo trong xây dựng, thay đổi nhằm phát triển, cải thiện văn hóa của tổ chức. VHTC bao gồm 3 cấp độ: 1) Những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), 2) Hệ thống giá trị đƣợc tuyên bố (Espoused values); 3) Những quan niệm chung (Basic underlying assumption) [25]. Một tác giả khác cũng có nhiều đóng góp trong nghiên cứu VHTC là Geert Hofstede. Tác giả đƣa ra các chiều đo VHTC, trên cơ sở đó phân tích sự khác nhau giữa văn hóa của các tổ chức, các quốc gia.
Năm chiều đo kích thƣớc văn hóa Geert Hofstede đƣa ra bao gồm: khoảng cách quyền lực (Power distance); chủ nghĩa cá nhân (Individulism); nam tính hay nữ tính (Masculinity); sự không chắc chắn (Uncertainty Avoidance); định hƣớng dài hạn (Long-teem Orientation). Những nghiên cứu của ông cho đến nay vẫn là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vấn đề đƣợc quan tâm tranh luận, đồng thời có những nghiên cứu trực tuyến sử dụng năm chiều đo kích thƣớc văn hóa để đánh giá văn hóa của các quốc gia trên toàn cầu [22]. Hai tác giả Cameron & Quinn nghiên cứu và đƣa ra công cụ đánh giá VHTC. Công cụ đánh giá VHTC (OCAI) là một phƣơng tiện khảo sát đƣợc nhiều nhà lãnh đạo sử dụng để tạo ra một hồ sơ VHTC nói chung.
Công cụ này đánh giá sáu chiều kích của VHTC, dựa trên bộ khung lý thuyết về việc các tổ chức vận hành nhƣ thế nào và văn hóa của các tổ chức ấy đặt nền tảng trên những giá trị gì. Bộ công cụ này xác định cả VHTC hiện hành lẫn VHTC mà ngƣời ta mong muốn có đƣợc trong tƣơng lai. Bộ khung lý thuyết này có thể đƣợc dùng nhƣ một cách để chẩn đoán và đề xƣớng những thay đổi bƣớc đầu trong VHTC mà các tổ chức tạo ra trên bƣớc đƣờng phát triển của họ, khi họ phải đƣơng đầu với áp lực của môi trƣờng bên ngoài [18]. Một số tác giả đã nghiên cứu về văn hóa hợp tác trong tổ chức nhà trường tại một số trƣờng phổ thông của quận Dacle (bang Florida), Chicago và San Diego.
Các tác giả nhƣ: Rosenholtz (1989), Fullan và Hargreaves (1991), Lortie (1975), Aston và Web (1986), Fullan và Hargreaves (1991), Stein (1998), Lambert (1998), Fullan (2001), Dufour& Eaker (1998), Susan Jonson (1990), Hord (1998) và Levine (1990),. tiếp tục phát triển nghiên cứu theo hƣớng này nhằm đƣa ra các biện pháp nhằm phát huy sự nỗ lực của giáo viên và các nhà quản lý để phát triển một văn hoá NT có tính hợp tác, chuyên nghiệp. Văn hóa nhà trường có sự hợp tác là những chuẩn mực, niềm tin, giá trị và các giả định sẽ củng cố và hỗ trợ tính chuyên nghiệp cao, làm việc theo nhóm và trao đổi về các vấn đề.[69] Còn một nhóm tác giả khác nhƣ Cross, Bazon, Dennis và Isaac (1989); Issaac và Benjamin (1991); Davis (1997) lại đề cập đến xây dựng năng lực văn hóa trong nhà trường. Năng lực văn hoá đƣợc coi là toàn bộ các hành vi, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan điểm và hành động đồng dạng trong cùng một hệ thống, tổ chức, hay giữa các nhà chuyên môn và giúp cho hệ thống, tổ chức hay nhóm nghề nghiệp đó hoạt động một cách có hiệu quả trong một môi trƣờng đa văn hoá.
Nghiên cứu của họ đã chỉ ra các thành phần của năng lực văn hóa; quá trình hình thành năng lực văn hóa và việc vận hành năng lực văn hoá trong các bối cảnh NT. Nghiên cứu về xây dựng văn hóa mạnh (strong culture) trong một tổ chức biết học hỏi (Learning Oganization) có các tác giả Ron Brandt (2003), Gladys Vivian Martoo (2006), Kelly, Luke và Green (2008)…. Tổ chức biết học hỏi là một tổ chức mà trong đó mọi thành viên đƣợc huy động lôi cuốn vào việc tìm kiếm, phát hiện và giải quyết vấn đề, vào việc làm cho tổ chức có khả năng thực hiện cách làm mới, để biến đổi, phát triển và cải tiến liên tục nhằm đẩy nhanh khả năng tăng trƣởng của tổ chức, khiến tổ chức có thể đạt đƣợc mục tiêu của mình một cách tốt đẹp nhất.[36] Họ đã phân tích những đặc điểm cơ bản của NT nhƣ một tổ chức biết học hỏi, cách thức để xây dựng lại NT thành một tổ chức biết học hỏi. Nghiên cứu về xây dựng không khí NT lành mạnh và hiệu quả, các tác giả Pace và Stern,1958; Halpin và Croft, 1963; Denison, 1996; Hoy, 1997… đã chỉ ra khuôn khổ và khái niệm về không khí tổ chức trong NT; nhận diện các loại hình không khí học đƣờng cơ bản và đánh giá không khí NT và xác định rõ VHNT và bầu không khí NT có những điểm đồng nhất nhƣng VHNT đƣợc thể hiện sâu hơn so với bầu không khí NT.
Những nghiên cứu ở trong nước Thuật ngữ VHTC,VHNT là khái niệm mới xuất hiện trong mấy năm gần đây và đƣợc đề cập ngày một nhiều trong các diễn đàn cũng nhƣ các hội thảo. Nhƣng thực ra bản chất và nội dung của VHNT đã đƣợc các nhà trƣờng ở Việt Nam từ xa xƣa xây dựng và trở thành các truyền thống quý báu của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân tộc ta nhƣ: “Tôn sƣ trọng đạo”, “Kính thầy yêu bạn”, “Nhất tự vi sƣ, bán tự vi sƣ”,. Trong quá trình xây dựng và phát triển, VHNT biểu hiện ngay trong mọi phƣơng diện QL, trong các hoạt động dạy học cũng nhƣ trong mọi hành vi ứng xử của các thành viên trong NT tạo nên sự khác biệt, các dấu ấn riêng của nhà trƣờng. VHTC cũng đã đƣợc nghiên cứu nhiều ở Việt Nam, tuy nhiên không phải là một nội dung độc lập mà chỉ là một nội dung nhỏ trong các nghiên cứu về khoa học tổ chức.
Các tác giả Nguyễn Văn Dung, Phan Đình Quyền, Lê Việt Hƣng trong cuốn VHTC và lãnh đạo (2010) đã đề cập về khái niệm VHTC và thể hiện quan hệ của văn hoá tổ chức với lãnh đạo, qua đó giải thích các hiện tƣợng trong tổ chức, và giúp các nhà lãnh đạo có hƣớng vận dụng để tạo ra tổ chức hiệu quả hơn. Các tác giả cũng phân tích văn hóa làm sáng tỏ sự phát sinh năng động các tiểu nhóm trong các tổ chức, chỉ ra các công nghệ mới tƣơng tác với tổ chức thế nào[5]. Ở Việt Nam hiện nay một số các nghiên cứu về VHNT đƣợc đề cập theo các xu hƣớng sau: Quản lý NT theo tiếp cận VHNT : các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thành Nghị, Lê Tiến Hùng, Phạm Quang Huân, Phan Thị Hoa Hƣơng, Lê Hiển Dƣơng, Trần Quốc Thành, … tập trung vào phân tích những quan niệm của các tác giả nƣớc ngoài về VHNT và đƣa ra một số giải pháp cho các NT phổ thông hiện nay ở Việt Nam ở các vấn đề nhƣ vai trò của ngƣời quản lý trong việc kiến thiết và phát triển môi trƣờng văn hóa lành mạnh và hiệu quả; vai trò của VHNT trong việc giúp NT đạt đƣợc mục tiêu trong thời kỳ hội nhập thông qua việc hình thành khả năng tƣ duy chiến lƣợc của NT; quản lý sự phát triển VHNT chính là tác động để tạo ra sự dịch chuyển các cấp độ của VHNT v. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tất cả những quan niệm này mới chỉ dừng ở việc mô tả mà chƣa phân tích sâu vào bản chất của VHNT, chƣa xác định đƣợc nếu thay đổi bất cứ một tiêu chí nào của VHNT thì sẽ thay đổi chính NT hiện có từ hệ thống giá trị, những hành vi và những cái đang diễn ra trong NT.
Quản lý NT theo tiếp cận hệ thống giá trị văn hóa của NT của tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc xây dựng VHNT (hay còn gọi là văn hóa học đƣờng) bằng giáo dục giá trị đƣợc thể hiện qua ba mặt của VHNT: cơ sở vật chất, môi trƣờng giáo dục và giao tiếp ứng xử. Xây dựng một hệ giá trị trong NT để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội, giá trị nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy ngƣời bên cạnh dạy chữ và dạy nghề [7,8]. Quản lý nhà trường thông qua xây dựng văn hóa học đường theo quan niệm của tác giả Vũ Dũng thì văn hóa học đƣờng đƣợc đánh giá qua mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong NT và môi trƣờng sƣ phạm của NT. 1) Hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo trong NT, là lối sống văn minh trong trƣờng học.
Văn hóa học đƣờng nhƣ là một sự ứng xử thể hiện ở: ứng xử của ngƣời dạy và học; ứng xử giữa ngƣời lãnh đạo và giáo viên; ứng xử giữa các đồng nghiệp. 2) Xây dựng một môi trƣờng sống văn minh, lịch sự. Nó thể hiện ở chỗ: - NT phải là môi trƣờng sống trong lành, sạch sẽ và không có tiếng ồn. - Môi trƣờng mang yếu tố thẩm mỹ không chỉ thể hiện qua cách ăn mặc của thầy cô, của học sinh mà còn qua hình thức của ngôi trƣờng, các phòng học, logo, biểu ngữ, khuôn viên NT.
Quản lý NT theo mô hình văn hóa “trường học thân thiện, học sinh tích cực” của nhóm tác giả nhƣ: Phạm Văn Khanh, Lê Ngọc Việt, … lại phân tích mô hình văn hóa học đƣờng dƣới góc độ của mô hình trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.