CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở pháp lý Văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nói chung và văn hóa doanh nghiệp trong ngành ngân hàng nói riêng có cơ sở pháp lý được quy định bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Việc xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp một cách hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường sức cạnh tranh và tạo dựng hình ảnh tốt đẹp cho ngân hàng trên thị trường. Các cơ sở pháp lý về văn hóa doanh nghiệp đó là: (1) Quyết định số 1846/QĐ-TTg, ngày 26/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam (lấy ngày 10 tháng 11 hằng năm là Ngày Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam) (2) Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của cán bộ ngân hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 11/QĐ-HHNH ngày 25/02/2019 của Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam) (3) Luật Các tổ chức tín dụng: - Điều 4: Nguyên tắc hoạt động của tổ chức tín dụng nêu rõ tổ chức tín dụng phải hoạt động theo quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức kinh doanh, thực hiện các quy tắc ứng xử và văn hóa doanh nghiệp của tổ chức tín dụng.
- Điều 38: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng quy định tổ chức tín dụng có quyền xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển của tổ chức tín dụng và phù hợp với quy định của pháp luật. (4) Nghị định số 153/2018/NĐ-CP về Quy định quản lý hoạt động của ngân hàng thương mại: - Điều 14: Yêu cầu về quản trị doanh nghiệp của ngân hàng thương mại quy định ngân hàng thương mại phải xây dựng và thực thi văn hóa doanh 6 nghiệp phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển của ngân hàng thương mại và phù hợp với quy định của pháp luật. - Điều 39: Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại quy định ngân hàng thương mại có quyền xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển của ngân hàng thương mại và phù hợp với quy định của pháp luật. (5) Thông tư số 49/2016/TT-NHNN về Xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Thông tư 49/2016/TT-NHNN quy định chi tiết về việc xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại, bao gồm: - Nội dung của văn hóa doanh nghiệp.
- Quá trình xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp. - Tổ chức, trách nhiệm thực hiện việc xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp - Đánh giá hiệu quả thực thi văn hóa doanh nghiệp. (6) Ngoài ra, văn hóa doanh nghiệp trong ngành ngân hàng còn chịu ảnh hưởng bởi các văn bản pháp luật khác như: - Bộ luật Lao động. - Luật Doanh nghiệp.
- Luật Cạnh tranh. Từ những cơ sở pháp lý trên có thể thầy văn hóa doanh nghiệp trong ngành ngân hàng được xây dựng tùy thuộc vào từng ngân hàng cụ thể theo nguyên tắc: - Văn hóa doanh nghiệp phải được xây dựng và thực thi phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển của ngân hàng và phù hợp với quy định của pháp luật. - Văn hóa doanh nghiệp phải được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của cán bộ, nhân viên trong ngân hàng. - Văn hóa doanh nghiệp phải được thực thi một cách thống nhất, đồng bộ trong toàn hệ thống ngân hàng.
7 - Việc xây dựng và thực thi văn hóa doanh nghiệp cần được thường xuyên đánh giá, kiểm tra để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp. Cơ sở khoa học 1. Khái quát chung về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa ra đời từ rất lâu và gắn liền với sự vận động và phất triển của xã hội loài người.
Văn hóa có sức mạnh to lớn, ảnh hưởng đến mỗi con người và cả xã hội, là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Văn hóa vừa có tính hữu hình, vừa có tính vô hình luôn luôn hiện hữu quanh ta. Vvì vậy, văn hóa là một phạm trù rất đa dạng và phức tạp. Trước hết, khái niệm về văn hóa có thể được tiếp cận theo nhiều mặt khác nhau và đã được rất nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức đưa ra định nghĩa theo suốt chiều dài hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Những dấu mốc đầu tiên về văn hóa xuất hiện từ thời kì đồ đá cũ cho đến thời kì đồ đồng (từ 2 - 3000 năm trước công nguyên) khi xuất hiện các nền văn minh. Mầm mống về văn hóa đã có từ rất lâu, nhưng đến tận năm 1871, trong cuốn “Văn hoá nguyên thuỷ” (Primitive culture), nhà khoa học người Anh Edward Bernett Tylor (1832 - 1917) đưa ra định nghĩa đầu tiên về văn hóa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”. Định nghĩa này của E. Tylor mang hàm ý miêu tả những thứ mà văn hóa thể hiện và những giá trị do con người có được theo chiều dài thời gian.
Từ khái niệm sơ khai đầu tiên đó, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tìm tòi, đúc kết từ những kinh nghiệm, bằng chứng cụ thể để đưa ra vô vàn định nghĩa thêm về văn hóa. Theo UNESSCO (1982) trên thế giới có khoảng 200 định nghĩa về văn hóa và UNESCO cũng đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm,… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng quốc 8 gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh (1940): “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Định nghĩa này của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc, đẩy đủ hơn về văn hóa.
Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống”, những hoạt động sống đó phải trải qua thực tiễn và được lặp đi lặp lại thành thói quen, nâng lên thành tập quán rồi sau đó chắt lọc thành chuẩn mực, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Với cách tiếp cận này cho thấy được tầm quan trọng cũng như vai trò to lớn của văn hóa trong việc xác định, phân biệt thực thể to lớn chung đó là các dân tộc khác nhau. Văn hóa luôn song hành cùng sự phát triển và hoàn thiện của con người, trải qua rất nhiều quá trình thay đổi rồi bị ảnh hưởng, tác động từ nhiều yếu tố khác nhau nhưng suy cho cùng thứ còn lại duy nhất đó là văn hóa. Qua các khái niệm trên có thể thấy được phần nào sự phong phú của một vấn đề, một ngành khoa học, một môn học, sản phẩm vĩ đại của nhân loại là văn hóa.
Sự phát triển không ngừng của văn hóa đã góp phần làm nên sự hình thành những nền văn hóa. Từ những quan điểm khác nhau về văn hóa trên đây, theo tác giả thì khái niệm về văn hóa có thể được hiểu là: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội. Vai trò của văn hóa Theo chiều dài lịch sử phát triển của loài người, mỗi hình thái kinh tế xã hội lại gắn liền với một hình thái hay nền văn hóa nhất định. Đi cùng với sự phát triển của xã hội, văn hóa luôn đồng hành và giữ vai trò to lớn trong mọi mặt đời sống xã hội.
Văn hóa là động lực phát triển của mỗi con người và phát triển kinh tế - xã hội Con người là nhân tố quyết định trong sự phát triển kinh tế của xã hội, họ trực tiếp hay gián tiếp tạo ra của cải vật chất phục vụ các mục tiêu kinh tế được đề ra trong phương hướng phát triển của mỗi quốc gia. Khi nhắc đến con người cũng là nói đến văn hóa bởi con người vừa là sản phẩm cũng chính là chủ thể tạo ra văn hóa. Động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế giờ đây không chỉ còn là sức lao động nữa mà còn là tổng hòa bởi nhiều yếu tố khác như công nghệ, trí tuệ, sự sáng tạo,… Tất cả các yếu tố đó không thể tự nhiên mà có được, con người phải trả qua quá trình rèn luyện, tư duy, thực nghiệm và cuối cùng là sáng tạo. Bàn về góc độ hàm nghĩa rộng hơn, văn hóa là tổng hòa các yếu tố vật chất và tinh thần mà con người tạo ra cho nên một nền văn hóa phát triển cũng đồng nghĩa theo đó một nền kinh tế có thể phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn là chỉ tập trung vào các chỉ tiêu kinh tế.
Một nguyên nhân lớn nữa làm rõ hơn quan điểm văn hóa là động lực phát triển kinh tế đó là sự thay đổi về nhu cầu. Nhu cầu của con người phát triển từ thấp đến cao và văn hóa chính là nhu cầu cao cấp nhất của con người. Việc phát triển sản xuất của cải, giá trị tinh thần, các giá trị kinh tế - xã hội nói chung cũng chính là để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của con người mà thôi. Ngoài khía cạnh về kinh tế, văn hóa còn là cơ sở hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, nó tác động đến mọi thành viên trong xã hội, buộc mỗi thành viên phải tỏ thái độ của mình trước sự thay đổi của xã hội.
Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều chung mục tiêu hướng đến những giá trị tốt đẹp nhất cho bản thân mình và xã hội, hướng đến chân, thiện, mỹ, hệ quả làm cho xã hội đó đại diện bởi các cá nhân phát triển hơn, hoàn thiện hơn.