Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Một số giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Quảng Nam. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE VAN HOA DOANH NGHIEP 1. KHAI QUAT VE VAN HOA DOANH NGHIEP 1.
Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp bắt đầu được quan tâm rộng rãi ở nước ta gần đây. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp là gì vẫn còn là vấn đề chưa được chính thức nhất quán giữa các học giả, các nhà kinh tế, tùy theo góc nhìn của mỗi người mà có những khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Một số khái niệm văn hóa doanh nghiệp: Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tô chức đã biết”. Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực.) Văn hóa thé hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phô biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong, thời gian dai (Kotter, J.) Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ôn định trong doanh nghiệp.) Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người tạo ra trong lịch sử của mình trong mối quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội”.
Còn nếu nói nôm na, dễ hiểu: Nếu doanh nghiệp là máy tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ điều hành. Tất cả định nghĩa về văn hóa cũng như văn hóa doanh nghiệp đều nêu lên đặc điểm này hay đặc điểm khác của văn hóa, rất khó có được một định nghĩa đầy đủ trọn vẹn. Tuy nhiên, một định nghĩa được đa số đồng tình đó là: “Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích” Định nghĩa trên nêu bật được ba đặc trưng quan trọng của văn hóa doanh nghiệp sau: thứ nhát, đó là các giá trị văn hóa được gây dựng trong quá trình hình thành và tồn tại của doanh nghiệp, như vậy văn hóa là sản phẩm. của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững; thứ hai đó là giá trị văn hóa nó phải trở thành những quan niệm, tập quán trong một thời gian đủ dài, những giá trị không được chấp nhận bởi doanh nghiệp sẽ bị loại trừ; và thứ ba những giá trị đó phải có khả năng chỉ phối đến nhận thức, hành vi của doanh nghiệp, nó giống như kim chỉ Nam, bao trùm lên suy nghĩ, hành vi ứng xử của thành viên doanh nghiệp trong việc ứng phó với những vấn đề tồn tại và phát triển của minh.
Dé tránh nhằm lần về các thuật ngữ đang được sử dụng trong luận văn, tác giả xin đưa ra sự phân biệt giữa các thuật ngữ “văn hóa doanh nghiệp”, “văn hóa tổ chức”, “văn hóa kinh doanh”, “văn hóa lãnh đạo”, “văn hóa chất lượng”, v.Trong đó, văn hóa doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các giá trị văn hóa khác. Văn hóa tổ chức chỉ nói đến cách hành xử về mặt cơ cấu, quản lý nhân sự bên trong doanh nghiệp, giá trị văn hóa đối với nhân viên doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh nói đến cách hành xử của doanh nghiệp trong công việc kinh doanh, chủ yếu với những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp như khách hàng, đối tác, cơ quan quản lý, Chính phủ, cô đông, cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động. Như vậy, văn hóa tô chức, văn hóa kinh doanh, hay văn hóa chất lượng, văn hóa lãnh đạo.
là những yếu tố cấu thành nên văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp chỉ những giá trị chung, định hướng cho tắt cả các hoạt động của doanh nghiệp; còn văn hóa tổ chức, văn hóa kinh doanh, văn hóa lãnh đạo, văn hóa chất lượng xác định những giá trị cụ thể về mặt tổ chức, kinh doanh, lãnh đạo, sản xuất. thích hợp với đường lối, giá trị chung của doanh nghiệp. Ví dụ văn hóa doanh nghiệp được xác định là kết hợp hài hòa lợi ích của nhân viên, khách hàng, đối tác, xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động; vậy thì để thực hiện mục tiêu đó, văn hóa tô chức, văn hóa kinh doanh, văn hóa lãnh đạo cũng phải được triển khai theo mục tiêu chung của văn hóa doanh nghiệp nghĩa là văn hóa tổ chức phải đảm bảo người lao động được bảo vệ quyền lợi chính đáng, không bị bóc lột sức lao động; văn hóa kinh doanh trung thực, không lừa dối khách hàng, đảm bảo môi trường thiên nhiên, có những hoạt động nhân đạo cho cộng đồng.
Biễu hiện của văn hóa doanh nghiệp * Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở 3 cấp độ: - Cấp thứ nhất dễ thấy nhất đó là thực thê hữu hình như những đồ vật: tài liệu, sản phẩm, văn phòng và vật dụng văn phòng,. hoặc công nghệ: máy móc, thiết bị, nhà xưởng. hoặc ngôn ngữ: chuyện cười, truyền thuyết, khẩu hiệu. hoặc các chuẩn mực hành vi: nghỉ thức, lễ nghị, liên hoan.
hoặc các nguyên tắc, hệ thống, thủ tục, chương trình. Như vậy, đây là tất cả những gì ta cảm nhận, nhìn thấy ở một doanh nghiệp. Những thực thể hữu hinh dé dang nhận thấy nhưng không dễ dàng đề giải mã ra đặc trưng văn hóa doanh nghiệp nếu chỉ dựa vào yếu tố này bởi vì phụ thuộc rất nhiều vào cách cảm nhận của riêng mỗi người. Ví dụ khi một người trông thấy cách thức tô chức không.
trang trọng, lịch sự của một doanh nghiệp thì có thể cho rằng doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả nếu như người đó đứng trên giả định của mình là sự lộn xộn nghĩa là không làm việc. Tuy nhiên, một người khác khi thấy một tổ đâu vào đó thì lại cho rằng doanh nghiệp đó thiếu tính sáng tạo nếu người này đứng trên kinh nghiệm riêng của mình là sự trang trọng, cũng có nghĩa là thủ tục và tính qui trình cao. Nếu người quan sát làm việc trong doanh nghiệp lâu dài thì có thể cảm nhận đúng đắn hơn mối quan hệ giữa những thực thể hữu hình và đặc trưng văn hóa của doanh nghiệp. Nếu chúng ta muốn biết được mối quan hệ này nhanh hơn thì chúng ta có thể tìm 10 hiểu những giá trị, qui tắc và lui mang tính hướng dẫn cho những hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp (cấp thứ hai của văn hóa doanh nghiệp) - Cấp thứ hai đó là các giá trị được thể hiện.
Đây là những giá trị xác định những gì mình nghĩ là phải làm hay không nên làm, xác định những gì mình cho là đúng hay không đúng. Giá trị được phân chia làm 2 loại. Loại thứ nhất là các giá trị tồn tại sẵn ngay trong doanh nghiệp một cách khách quan và hình thành tự phát. Loại thứ hai là các giá trị mà lãnh đạo mong muốn doanh nghiệp mình có và phải xây dựng từng bước.
Các giá trị được thể hiện có thể được xem là đúng hay sai, hợp lý hay không tùy thuộc vào trình độ nhận thức, kinh nghiệm của riêng mỗi cá nhân. Khi các giá trị này được minh chứng bằng thực tiễn của doanh nghiệp thì sẽ trở thành những ngầm định nền tảng (cấp thứ 3). Ví dụ, giám đốc nhân sự của công ty mong muốn công ty được trẻ hóa đội hình bởi vì ông ta nghĩ rằng người trẻ thì làm việc tốt hơn đối với tính chất kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn này, nhưng ý kiến này không được nhiều người ủng hộ vì chưa được minh chứng; bằng quyền lực của mình giám đốc nhân sự có thể ra qui định cho các phòng ban trong công, ty phải tuyển người trong khoảng 25-35 tuôi. Khi những người trẻ tuổi thành công trong doanh nghiệp và dần dần quan điểm này thông qua một cơ chế chuyên đôi từ niềm tin một cá nhân, những giá trị được chia sẽ chung ngầm định nền tảng trong công tác tuyển dụng của tất cả phòng ban doanh nghiệp.
Để trở thành những ngầm định nền tảng, các giả định về giá trị phải minh chứng được tính chất thích hợp, đúng đắn trong một thời gian đủ dài và ngay cả khi môi trường thay đôi trong suốt quá trình chuyền đổi trên. Các giá trị thể hiện sẽ giúp ta dự đoán được điều mà lãnh đạo, nhân viên doanh nghiệp sẽ nói trong nhiều hoàn cảnh nhưng có thể không phải là những điều thực sự được hành động, Ví dụ một công ty nói rằng họ luôn trân trọng giá trị của nhân viên, tạo môi trường làm việc tốt nhất cho nhân viên, nhưng có thể thực tế một số hành động thì không thê hiện mạnh, tuyệt đối điều này. 11 ~ Cấp thứ ba là các ngầm định nên tảng. Đó là các niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân trong doanh nghiệp.
Các ngầm định nền tảng này là nền tảng cho các giá trị và hành động của mỗi thành viên. Không có sự tranh luận, suy xét đúng sai cho các ngầm định nền tảng, nó được coi là chân lý cho hoạt động của doanh nghiệp, đây cũng là gốc rễ, bản chất của đặc trưng văn hóa doanh nghiệp. Do đó, việc thay đổi các ngầm định nền tảng trong doanh nghiệp là điều hết sức khó khăn, nhưng ngược lại để giải quyết tận gốc rễ các vấn đề văn hóa của doanh nghiệp là phải giải quyết, thay đổi được các ngầm định nền tảng. Chẳng hạn, có một giả định rằng để hoàn tất thủ tục hành chính một cách nhanh gọn thì phải hối lộ quan chức nhà nước, và thực tế cũng đã chứng.
minh điều ấy và qua thời gian đủ dài nó trở thành những ngầm định nén tang, cứ làm thủ tục hành chính là phải chỉ tiền hối lộ, doanh nghiệp mặc nhiên thừa nhận khoản chỉ phí không có hóa đơn này, tạo lập một tập tính không tốt trong công tác kinh doanh.