Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động. Chương 2: Thực trạng các chính sách tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ phần May Trường Giang trong thời gian qua. Chương 3: Một số giải pháp để hoàn thiện chính sách tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ phần May Trường Giang. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu để xây dựng khung lý thuyết cho luận văn này, tác giả đã tham khảo một số tài liệu chính như sau: - Nguyễn Quốc Tuấn, Đào Hữu Hòa, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Thị Loan (2006), Quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê.
Giáo trình đã cung cấp các kiến thức lý thuyết về vấn đề quản trị nguồn nhân lực; về phân tích, thiết kế công việc; xây dựng thù lao, tưởng thưởng nhân viên. Đặc biệt, giáo trình đã cung cấp các kiến thức nền tảng giúp cho tác giả định hình khung lý thuyết về các chính sách cơ bản nhằm tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp [22]. - Vũ Thị Uyên (2008), Tạo động lực cho lao động quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong nghiên cứu này tác giả đã phân tích về nhu cầu, sự thỏa mãn, cách phát triển nhu cầu mới nhằm tăng động lực cho lao động quản lý.
Luận án đã chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của các biện pháp tạo động lực đang được áp dụng và đưa ra được nguyên nhân còn tồn tại ảnh hưởng đến động lực làm việc của lao động quản lý. Qua đó, đưa ra một số giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội. Luận văn mới chỉ đề cập đến khía cạnh tạo động lực cho lao động quản lý chứ chưa nghiên cứu đề cập đến đối tượng lao động trực tiếp [24]. - Lê Thế Giới, Nguyễn Xuân Lãn, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Thị Loan (2011), Giáo trình Quản trị học (tái bản lần thứ nhất), NXB Tài Chính.
Giáo trình đã cung cấp cho các học viên và người đọc những kiến thức, lý thuyết căn bản như: nhận thức được rõ khái niệm quản trị và nhà quản trị; công việc của nhà quản trị trong các tổ chức; kiến thức về năng lực được sử dụng trong công việc của nhà quản trị qua việc nghiên cứu và thực hành chúng. Đặc biệt, cuốn sách này đã cung cấp khung lý thuyết về cách tiếp cận nghiên cứu động cơ, động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp [10]. - Nadeem Shiraz và Majed Rashid (2011), Những tác động của quy chế khen thưởng và đánh giá trong động lực lao động và sự hài lòng, Học viện Interdisciplinary Business Research, Pakistan. Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu vai trò của cơ hội thăng tiến và phong cách lãnh đạo để tạo động lực và hài lòng cho nhân viên.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ và sự khác nhau về động lực làm việc với sự hài lòng, cụ thể hơn là sự khác nhau giữa cơ hội thăng tiến và phong cách lãnh đạo trong tạo động lực lao động [16]. Boudreau (2012), Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Thống kê. Giáo trình đã xem xét và đưa ra những quyết định có hiệu quả về nguồn nhân lực như: các phương pháp chẩn đoán trong quản lý nguồn nhân lực, phát triển nhân viên, thù lao, đào tạo, các mối quan hệ với công nhân viên, người lao động. Giáo trình giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về vai trò và cách thức triển khai các chính sách nhân sự nhằm tác động đến nguồn nhân lực trong doanh nghiệp qua đó tạo động lực làm việc mạnh mẽ cho người lao động.
Cuốn sách cũng giúp cho người đọc nắm vững các khái niệm liên quan đến các chính sách nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, các vấn đề liên quan đến nhu cầu, động cơ, động lực làm việc. Pink (2013), Sách Động lực chèo lái hành vi, NXB Lao động Xã hội. Nội dung cuốn sách đã chỉ ra những khác biệt giữa lý thuyết với thực tế - cũng như tác động của chúng ta tới cuộc sống của chúng ta. Tác giả đã chứng minh rằng, mặc dù đã làm mưa làm gió suốt thế kỷ XX, phương pháp cũ rích Củ cà rốt và cây gậy không còn phù hợp để thúc đẩy mọi người vượt qua những thử thách trong thời đại ngày nay.Trong Động lực chèo lái hành vi, ông nêu ra ba yếu tố tạo ra động lực thực sự: Tự chủ (khao khát được làm chủ cuộc sống của chính mình); Thành thạo (niềm thôi thúc không ngừng hoàn thiện và bổ sung kiến thức về các vấn đề bất kỳ); Lý tưởng (là khao khát được cống hiến không vì bản thân mình) [17].
- Võ Thị Hà Quyên (2013), Tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Dệt may 29/3, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã nghiên cứu xây dựng khung lý luận và ứng dụng vào nghiên cứu thực tiễn công tác tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Dệt may 29/3. Qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách tạo động lực lao động nhằm không ngừng thúc đẩy đội ngũ lao động nỗ lực làm việc để đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại và mục tiêu phát triển lâu dài của Công ty. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp giúp tăng năng suất, nâng cao chất lượng, tiến độ công việc, xây dựng đời sống tinh thần, nâng cao tinh thần học hỏi, phát triển bản thân cán bộ công nhân viên tại Công ty [18].
- Nguyễn Thị Phương Lan (2015), Hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước, Luận án tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. Trong nội dung của luận án đã tổng hợp và hệ thống hóa một cách cơ bản các khái niệm, lý luận về động lực, tạo động lực làm việc; đồng thời luận án cũng đã làm sáng tỏ nhiều điểm khác biệt về động lực và các yếu tố giữa tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước so với người lao động ở khu vực ngoài nhà nước. Luận án đã xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện về hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức hành chính nhà nước, từ đó nhằm giải quyết được tình trạng thiếu sự gắn bó với khu vực công, hiệu suất lao động giảm, hiệu quả thấp và các biểu hiện tiêu cực đã và đang là những nguyên nhân chủ yếu khiến cho nền công vụ có những hạn chế, yếu kém [15]. - Nguyễn Thị Hoài Hương (2016), Tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Softech, Luận văn thạc sĩ.
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tạo động lực lao động ứng dụng vào điều kiện của ngành công nghệ thông tin. Đề tài cũng giúp làm rõ các vấn đề về việc làm và điều kiện làm việc của lao động nữ trong một doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghệ thông tin; thực trạng đời sống vật chất, đời sống tinh thần của lao động, từ đó đề ra giải pháp tạo động lực lao động cho nhân sự tại Công ty Cổ phần Softech [14]. Tóm lại, đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiêu nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề động cơ thúc đẩy và tạo động lực làm việc cho người lao động. Các nghiên cứu đã cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết và thực tiễn phong phú về việc tạo động lực cho người lao động, tuy nhiên chưa có công trình nào tương tự nghiên cứu tại Công ty Cổ phần May Trường Giang.
Vì vậy, trên cơ sở các tài liệu tổng hợp trên, sẽ giúp cho tác giả kết hợp với các tài liệu và tình hình thực tế của Công ty Cổ phần May Trường Giang để tổng hợp, hệ thống lại và nêu lên các cơ sở lý thuyết, thực trạng, định hướng và giải pháp hoàn thiện cho công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty Cổ phần May Trường Giang trong tương lai. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Nhu cầu và lợi ích Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần cần được đáp ứng.
Đây là trạng thái tâm sinh lý của con người nhằm mong muốn đạt được cái gì đó. Nhu cầu cũng được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó [12, tr.146] Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định. Có 2 nhóm nhu cầu: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần.
Nhu cầu vật chất là nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người. Nhu cầu tinh thần là nhu cầu gắn liền với sự hài lòng về tâm lý của con người. Sự thoả mãn nhu cầu được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của con người đến một mức độ nào đó. Khi một nhu cầu được thoả mãn về cơ bản nó sẽ dần mất đi và nhu cầu mới lại xuất hiện.
Con người không bao giờ hết nhu cầu, sự thỏa mãn nhu cầu có ảnh hưởng tích cực đến động lực của mỗi người. Cần nhớ rằng nhu cầu luôn tồn tại vĩnh viễn nhưng yếu tố quyết định đến động lực không phải nhu cầu mà lợi ích. Trong bài giảng về nhu cầu lợi ích Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong điều kiện nhất định” [2, tr. Lợi ích cũng được định nghĩa là “kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân” [12, tr.
Lợi ích có vai trò to lớn trong quản lý, nó tạo động lực mạnh mẽ cho các hoạt động nhất định của con người, nó buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm phương thức thực hiện có hiệu quả nhất các mục tiêu thỏa mãn những nhu cầu của mình. Tương tự như các dạng nhu cầu, lợi ích cũng gồm hai dạng là lợi ích vật chất là lợi ích tinh thần. Lợi ích tạo ra động lực lao động.