Chương 1: Lý luận cơ bản về cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội 7 Chương 2: Thực trạng cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc. 8 Ơ LÝ LUẬ Ơ ẢN VỀ CHO VAY H NGHÈO T I NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ H I 1.1 Khái quát về Ngân hàng Chính sách xã h i 1.1 Giới thiệu chung Ngân hàng Chính sách xã hội Ngày 31 tháng 8 năm 1995, Thủ tướng Ch nh phủ Việt Nam ra Quyết định số 525-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ Người nghèo để giúp người nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đ ch lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, b đắp chi ph. Thời điểm đó, Ngân hàng chỉ tham gia ban hành ch nh sách, còn việc điều hành tác nghiệp ủy thác cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đảm nhận. au bảy năm Ngân hàng Phục vụ người nghèo hoạt động, nhằm tách t n dụng ch nh sách ra khỏi hoạt động t n dụng thông thường của các ngân hàng thương mại nhà nước, ngày 4 tháng 10 năm 2002, Ch nh phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về t n dụng đối với người nghèo và các đối tượng ch nh sách khác; cũng trong ngày này, Thủ tướng Ch nh phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Ch nh sách xã hội để cho vay người nghèo và các đối tượng ch nh sách khác.
Vốn điều lệ ban đầu của Ngân hàng là 5 nghìn tỷ đồng và được cấp bổ sung ph hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Thời hạn hoạt động là 99 năm. Ngày 11 tháng 3 năm 2003, Ngân hàng ch nh thức hoạt động. Đến ngày 30 tháng 9 năm 2017, tổng nguồn vốn của Ngân hàng là hơn 179.000 tỉ đồng, gấp hơn 25 lần so với khi thành lập.
Tổng dư nợ các chương trình t n dụng ch nh sách đạt hơn 169.000 tỷ đồng, gấp 24 lần so với khi thành lập. Hơn 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng ch nh sách 9 còn dư nợ. Hơn 31,8 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng ch nh sách khác đã vay vốn từ Ngân hàng, nhờ đó hơn 4,5 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo. Vốn ủy thác của địa phương gần 8.
Có thể thấy, thành lập Ngân hàng Ch nh sách xã hội để thực hiện ch nh sách t n dụng đối với người nghèo và các đối tượng ch nh sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5, ngày 01 tháng 9 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Ch nh sách xã hội có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, có tài sản và hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. Trụ sở ch nh đặt tại Thủ đô Hà Nội.2 Chức năng của Ngân hàng chính sách xã hội Ngày 22 tháng 01 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội, trong đó NHCSXH có những chức năng sau: - NHCSXH được thành lập để thực hiện ch nh sách t n dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng ch nh sách khác. - Hoạt động của NHCSXH không vì mục đ ch lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước.
- NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác cho vay ưu đãi của ch nh quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, ch nh trị – xã hội, các hiệp hội, các 10 hội, các tổ chức phi Ch nh phủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội. - NHCSXH là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng ch nh sách có điều kiện tiếp cận vốn t n dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện ch nh sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. hệ vụ của gân h ng hính ách x h Nhiệm vụ của NHC XH là đưa các nguồn lực tài ch nh do Nhà nước và Ngân hàng huy động để người nghèo và các đối tượng ch nh sách khác được vay ưu đãi để sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Cho vay h nghèo của Ngân hàng Chính sách xã h i 1.
Khái niệm à đặc điểm cho ay hộ nghèo a. Khái niệm cho vay h nghèo Cho vay hộ nghèo tại NHCSXH là cho vay vốn tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm, đảm bảo an sinh xã hội. ặc đ ểm cho vay h nghèo - Hộ nghèo vay vốn NHCSXH là hộ có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn tại địa phương nơi cho vay; có tên trong danh sách hộ 11 nghèo ở xã (phường, thị trấn) sở tại theo chuẩn hộ nghèo do Bộ LĐ-TB&XH công bố từng thời kỳ. - Hộ nghèo vay vốn tại NHCSXH không phải thế chấp tài sản và được miễn lệ phí làm thủ tục vay vốn nhưng phải là thành viên tổ tiết kiệm và vay vốn, được tổ bình xét, lập thành danh sách đề nghị vay vốn có xác nhận của UBND cấp xã.
- Vốn vay được sử dụng đầu tư cho hoạt động chăn nuôi, sản xuất kinh doanh, dịch vụ; làm mới và sửa chữa nhà ở; điện sinh hoạt; xây dựng các công trình nước sạch; giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về chi phí học tập cho học sinh. - Lãi suất cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước. - Mức cho vay đối với từng hộ nghèo được xác định căn cứ vào: nhu cầu vay vốn, vốn tự có và khả năng trả nợ của hộ vay (hiện nay mức cho vay hộ nghèo đến 100 triệu đồng/ hộ). - Thời hạn vay vốn đối với hộ nghèo phù hợp với đối tượng và thời gian luân chuyển của chu kỳ sản xuất, kinh doanh và được cho vay nhiều lần cho đến khi thoát nghèo.
- NHCSXH thực hiện ủy thác cho 04 tổ chức chính trị - xã hội thực hiện một số nội dung công việc trong quy trình cho vay vốn hộ nghèo, trong đó có việc thành lập và quản lý Tổ tiết kiệm và vay vốn. NHCSXH tổ chức giải ngân, thu nợ trực tiếp đến từng người vay tại các điểm giao dịch xã và tổ chức hạch toán, theo dõi nợ vay đến từng người vay.Vai trò của cho ay hộ nghèo NHCSXH có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo. Nó được coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo. Vai trò của tín dụng NHC XH được thể hiện ở một số nội dung sau: - Cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống.
Vốn tín dụng cho hộ nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là v ng sâu, v ng xa, v ng đặc biệt khó khăn, v ng có nhiều đồng bào dân tộc t người sinh sống. Trong ba yếu tố cơ bản để hộ nghèo có điều kiện sản xuất kinh doanh; đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác, kể cả đất đai. Hiện nay, tích luỹ của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.
- Cho vay hộ nghèo làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi. Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Cho vay nặng lãi thể hiện ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, m a non…ở thời kỳ giáp hạt. Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi.
Tín dụng nặng 13 lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm. Chính hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi. - Giúp hộ nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh vươn lên thoát nghèo. Cung ứng vốn cho hộ nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho sản xuất, kinh doanh để xóa đói giảm nghèo; sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình; đồng thời trả nợ cho ngân hàng.
Để làm được điều đó, họ phải học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý.