Chương 1 Một số lý luận về hiệu quả hoạt động tín dụng cho hộ nghèo. Một số vấn đề cơ bản về nghèo đói và hộ nghèo 1. Một số khái niệm Nghèo luôn tồn tại như là một tất yếu tự nhiên trong xã hội, cả ở những nước được xem là có nền kinh tế phát triển so với phần còn lại của thế giới. Đặc biệt tại các nước đang phát triển thì đói nghèo là một tình trạng phổ biến của hầu hết các quốc gia, nhất là khu vực nông thôn, miền núi.
Chúng ta cũng thấy rõ, nghèo là một vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội, một đất nước mà còn nằm trong chuẩn nghèo của quốc tế thì khó phát triển được, một hộ được cho là nghèo so với những tiêu chuẩn chung của quốc gia sẽ khó có thể tiếp cận được những điều kiện sống tốt đẹp. Do đó, ngoài ảnh hưởng đến việc ăn, mặc, nghèo cũng sẽ ảnh hưởng đến sự thiệt thòi về sức khỏe, giáo dục.Trên thế giới, nói đến đói nghèo thì có nhiều quan điểm khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt năm 2000 của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam thì nghèo là việc một người có rất ít tiền, không đủ đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu, nghèo đói là việc không có cái để ăn [29, 737]. Theo Từ điển Anh – Việt của Trung tâm khoa học xã hội – nhân văn quốc gia, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1994 thì nghèo (poor) là người có ít tiền để mua những thứ cần dùng cơ bản cho mình [30,1269].
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đói nghèo là tổng hợp khái niệm đói và khái niệm nghèo: Đói và nghèo thường gắn chặt với nhau, nhưng mức độ gay gắt khác nhau. Đói có mức độ gay gắt cao hơn, cần thiết phải xoá và có khả năng xoá. Còn nghèo, mức độ thấp hơn và khó xoá hơn.
Dù ở dạng nào, thì đói cũng đi liền với thiếu chất dinh dưỡng, suy dinh dưỡng. Có thể hình dung các biểu hiện của tình trạng thiếu đói như sau: - Thất thường về lượng: Bữa đói, bữa no, ăn không đủ bữa. - Về mặt năng lượng: Nếu một ngày con người chỉ được thỏa mãn mức 1.500 8 calo/ngày, thì đó là thiếu đói (thiếu ăn); dưới mức đó là gay gắt. Nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu.
Trong hoàn cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng ngày về kinh tế, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn. Họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Biểu hiện rõ nhất ở các hộ nghèo là hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, không có điều kiện để chữa bệnh khi ốm đau. Nhìn chung ở hộ nghèo, người nghèo thu nhập thực tế của họ hầu như chỉ dành chi toàn bộ cho ăn; thậm chí không đủ chi ăn, phần tích luỹ hầu như không có.
Còn theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Cành thì nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có đủ điều kiện để thảo mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình của cộng đồng dân cư xét trên mọi phương diện [3,15]. Và tại Hội nghị bàn về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok- Thailand, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" [6,13]. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức ở Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 3/1995 đã đưa ra định nghĩa đói nghèo như sau: "Người nghèo là người mà tất cả những thu nhập của họ nhỏ hơn 1 USD/ngày, đây là số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại". Đặc biệt tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc về phát triển xã hội, tháng 6/2000 tại Thụy Sĩ, cộng đồng quốc tế đã cam kết đến năm 2015 giảm phân nửa số người nghèo so với năm 2000, đồng thời kêu gọi các quốc gia cần tăng cường chiến dịch chống đói nghèo trên toàn thế giới.
Đến tháng 9/2000, tại New York (Mỹ), một lần nữa Liên hợp quốc lại khẳng định chống đói nghèo được là một 9 trong những nội dung quan trọng, ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển của thế giới của thế kỷ XXI. Trên thực tế không có một khái niệm duy nhất về nghèo, mà nghèo là một khái niệm có tính chất lịch sử vì nó thay đổi theo điều kiện kinh tế - xã hội theo từng thời kì và trong từng điều kiện cụ thể. Tình trạng nghèo luôn biến đổi và là tình trạng thiếu thốn trên nhiều phương diện. Khái niệm nghèo hiện nay không còn được tranh cãi nhiều và hầu như đã đi đến thống nhất, chỉ có sự khác nhau về phương pháp đo lường và đánh giá chuẩn nghèo giữa các tổ chức quốc tế, của Chính phủ Việt Nam.
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có thể khái quát quan niệm đói nghèo trên những khía cạnh theo Tuyên bố của Liên hợp quốc (UN), 6/2008 là: “Về cơ bản, nghèo là sự phủ nhận quyền lựa chọn và cơ hội, là sự vi phạm nhân phẩm con người. Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo có nghĩa là sự không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [31,5]. Tóm lại, đói nghèo là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu và đang là thách thức đối với nhân loại trong những năm gần đây. Giải quyết vấn đề này ngoài việc sử dụng các chính sách hỗ trợ còn phải tính đến việc sử dụng các phương pháp khoa học kết hợp với nhau tạo nên tính đồng bộ chung. Đói nghèo có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới không loại trừ nước phát triển hay không phát triển.
Do đó, đói nghèo là vấn đề có tính quốc gia và toàn cầu. Chuẩn nghèo – hộ nghèo 1. Theo thế giới Theo Ngân hàng Thế giới, biện pháp áp dụng thông dụng nhất để đo lường đói nghèo là dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu. Một người được coi là 10 nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của anh ta xuống dưới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản.
Mức tối thiếu này được gọi là “ngưỡng đói nghèo”, các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội. Do đó, ngưỡng đói nghèo khác nhau theo thời gian và địa điểm ở mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Tuy nhiên, hiện nay các nước trên thế giới đã thực hiện đánh giá hộ nghèo theo chỉ số nghèo đa chiều toàn cầu (MPI), chỉ số toàn cầu MPI được xây dựng dựa trên phương pháp Alkire và Foster, thước đo MPI toàn cầu bao gồm ba chiều (y tế, giáo dục, mức sống) và mười hai chỉ số (hai về yế, hai về giáo dục và sáu về mức sống) [31,6]. Chuẩn nghèo tại Việt Nam: - Chuẩn nghèo quốc gia: trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam: Thứ nhất, là số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100 calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm; Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung.
Tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng một loạt các chỉ tiêu đánh giá về nghèo đói và phát triển xã hội: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình tùy theo từng thời gian. Các hộ được xếp vào diện nghèo, nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định. Mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ giữa dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo so với tổng dân số trong cùng một thời điểm.
Năm 1997, chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của chương trình quốc gia để áp dụng cho thời kỳ từ năm 1996 - 2000 như sau: Hộ đói là hộ có thu nhập dưới 13 kg 11 gạo/người/tháng (tương đương 45.000 đồng cho tất cả các vùng); Hộ nghèo là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng. Trước những thành tích của công cuộc xóa đói giảm nghèo, cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức sống. Cuối năm 2000 mức sống của dân cư tăng lên 1,5 lần, thu nhập GDP đầu người tăng lên 1,47 lần so với năm 1996, chuẩn hộ nghèo đã được điều chỉnh cho phù hợp với chuẩn quốc tế. Theo chuẩn mực phân loại hộ nghèo do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định tại văn bản số 1143 ngày 01/11/2000 đã công bố mức chuẩn nghèo mới áp dụng cho thời kỳ 2001- 2005, thì hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng như sau: 80.000 đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng miền núi nông thôn; 100.000 đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn; 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm từ 25% trở lên, thiếu 3 trong số các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, điện thắp sáng, trường học, trạm y tế, nước sạch sinh hoạt, chợ).
Vùng nghèo có thể là một số xã liền kề (hoặc một vùng dân cư) nằm ở vị trí khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi.