Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn.
Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.
Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì.Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho m 5 vay, lãi suất phải trả,.
Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Theo các nhà kinh tế, tín dụng là một phạm trù kinh tế. Tín dụng hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, dưới góc độ khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra những định nghĩa khác nhau về tín dụng.
Trong đó, nổi bật là: + Cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: "Tín dụng là sự vay mượn tiền mặt và vật tư" [70, tr. Định nghĩa này thể hiện mối quan hệ cấu thành bản chất bên trong của quan hệ kinh tế: vay - mượn, cả về tiền mặt lẫn hàng hóa; với tư cách là tiền hay hiện vật giữa các chủ thể kinh tế. + Tác giả Lê Văn Tề, trong cuốn Tiền tệ và Ngân hàng cho rằng: Tín dụng diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam không chỉ là sự vay mượn đon thuần mà còn là sự vay mượn với sự tín nhiệm nhất định. Định nghĩa này hàm nghĩa tín dụng là quan hệ kinh tế vay mượn trên cơ sở lòng tin của cả người cho vay và đi vay.
+ Tác giả Vũ Văn Hóa, trong cuốn Lý thuyết tiền tệ quan niệm rằng: Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (Trái chủ hoặc người cho vay) chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán trong tương lai của bên kia (Thụ trái hoặc người đi vay). Cách luận giải này phản ánh tính chất ràng buộc của quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay. Đối tượng tín dụng phong phú, cụ thể (tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán) và dựa vào lòng tin, sự tín nhiệm. + Học giả người Pháp - Louis Baudin khẳng định: Tín dụng là sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai, tức là hai bên cam kết: Một bên thi trao đổi ngay một số tiền bạc, bên kia cam kết sẽ hoàn trả lại những điều m 6 khoản đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
Ở đây, Louis Baudin cũng chỉ ra mối quan hệ trao đổi tài hóa trong hiện tại để lấy tài hóa trong tương lai giữa người cho vay và người đi vay, với những điều kiện và khoảng thời gian xác định. + Khi nghiên cứu về Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các Mác chỉ rõ: Tín dụng là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho một người này giao cho một người khác một số tư bản nào đó, dưới hình thức tiền hoặc dưới hình thái hàng hóa đáng giá một số tiền nhất định nào đó. Số tiền này được ưả lại trong một thời gian nhất định. Và, điều tất yếu của sự luân chuyển (ườ về) điểm xuất phát của đồng tiền không chỉ giữ được nguyên vẹn giá trị của nó mà đồng thời nó lại lớn lên thêm trong quá trình vận động.
Nghiên cứu tín dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các Mác đã chỉ rõ bản chất của tín dụng: Một là, xuất hiện sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị từ chủ thể cung tín dụng sang chủ thể cầu tín dụng. Hai là, sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị trong khoảng thời gian xác định và mang tính tạm thời. Ba là, chủ thể cầu tín dụng phải hoàn trả gốc và lãi (lợi tức) cho chủ thể cung tín dụng. Như vậy, các nhà kinh tế đều khẳng định một quan hệ tín dụng tồn tại và phát triển phải đảm bảo 3 điều kiện trên.
Biểu hiện ra trên bề mặt xã hội của quan hệ tín dụng là sự vận động của lượng giá trị vốn tín dụng, qua các giai đoạn: phân phối vốn tín dụng, sử dụng vốn tín dụng và hoàn trả vốn tín dụng. Sự vận động của lượng giá trị tín dụng khi quay về điểm xuất phát luôn phải đảm bảo giá trị và giá trị tăng thêm, dưới hình thức lợi tức, thông qua cơ ché điều tiết lãi suất. Tính hoàn ừả cùa tín dụng là cơ sở khoa học để phân biệt phạm trù tín dụng với phạm trù kinh tế khác. Từ những phân tích trên đây, có thể định nghĩa về tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ kinh tể gắn với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng theo nguyên tắc hoàn trả nhằm thỏa mãn nhu cầu vẻn phát triển kinh tế - xã hội.
m 7 Trong nền KTTT hiện đại, tín dụng không chỉ dựa vào lòng tin, sự tín nhiệm của người cho vay vốn và người đi vay vốn mà còn được pháp luật bảo vệ. Đó là cơ sở quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh các quan hệ tín dụng, đảm bảo vốn cho phát triển nền kinh tế hiện đại, xây dựng một xã hộỉ văn minh. Nền KTTT càng phát triển, hình thức tín dụng càng phong phú. Song, trên thị trường đang tồn tại và phát triển các hình thức tín dụng cơ bản: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng Nhà nước, tín dụng quốc tế.
Trong giới hạn, phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hình thức tín dụng ngân hàng. "Tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế" [68, tr.1 Như vậy, đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Ngân hàng hoạt động với tư cách là một trung gian tài chính, thực hiện nhiệm vụ đi vay vốn của người có vốn để cho vay những người cần vốn; được hưởng lợi nhuận, theo sự điều tiết của cơ chế thị trường và được pháp luật bảo vệ. Đặc điểm, bản chất của tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế thuộc về kinh tế hàng hoá, là mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa hai chủ thể là những người hoặc các quốc gia khác nhau về khả năng và nhu cầu tiền tệ, có nhu cầu chuyển nhượng giá trị và chấp nhận giá trị.
Tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của vốn tiền tệ (vốn vay) mà còn là một loại quan hệ xã hội, trước hết la lòng tin. Từ xa xưa, tín dụng dựa trên lòng tin là chủ yếu, đến nay nó được bảo trợ của pháp luật nhà nước. Song tín dụng không phản ánh mọi mối quan hệ xã hội , mà chỉ những quan hệ xã hội biểu hiện các mối liên hệ vay mượn. Tín dụng biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả.
Cơ sở của vật chất tín dụng là tiền tệ và hàng hoá [20,17-37]. Đặc điểm của tín dụng biểu hiện ở các chủ thể của nó là những người m 8 vay và người đi vay. Trong quan hệ tín dụng phải có mặt đồng thời cả hai chủ thể: Người vay và người cho vay. Người cho vay là chủ thể cấp tín dụng.
Để cấp tiền vay, người cho vay cần phải có một một lượng giá trị tài sản nhất định, mà nguồn của nó có thể là tiền vốn tự có, là hàng hoá hoặc tài sản vay mượn ở các chủ thể khác. Hiện nay, ngân hàng cấp tín dụng chủ yếu bằng nguồn vốn huy động. Cùng với sự hình thành hệ thống ngân hàng, đã diễn ra sự tập trung tín dụng. Các ngân hàng trở thành người đại diện cho tất cả những người cho vay bằng tiền.
Với tư cách đó, ngân hàng có thể động viên mọi nguồn vốn tạm thời chưa sử dụng trong nền kinh tế quốc dân. Trong tín dụng thương mại, một hình thức tín dụng khá phát triển trong kinh tế thị trường, người cho vay chuyển cho người đi vay các hàng hoá đang được tiêu thụ và khi đó chưa xuất hiện ngay các quan hệ thanh toán bằng tiền tệ. Người đi vay là chủ thể thứ hai trong quan hệ tín dụng. Ví trí của người vay trong quan hệ tín dụng về cơ bản khác với người cho vay về tư cách sở hữu vốn, sử dụng vốn và tính định đoạt, trách nhiệm hoàn trả vốn.