Chương 1: Cơ sở lý luận và tình hình văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Việt Nam Chương 2: Tình hình phát triển văn hóa công sở tại Chi cục Hải quan Hải Dương Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp phát triển văn hóa công sở tại Chi cục Hải quan Hải Dương 9 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM 1.Khái niệm văn hóa tổ chức Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tố văn hóa đƣợc chủ thể (tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đó tạo nên bản sắc riêng của một tổ chức. [6] Văn hóa của tổ chức đƣợc xem là một nhận thức chỉ tồn tại trong một tổ chức chứ không phải trong một cá nhân. Vì vậy, các cá nhân có những nền tảng văn hóa, lối sống nhận thức khác nhau, ở những vị trí làm việc khác nhau trong một tổ chức, có khuynh hƣớng hiển thị văn hóa tổ chức theo cùng một cách hoặc ít nhất có cùng mẫu số chung. Văn hóa của tổ chức có liên quan đến cách nhận thức và lối hành xử của các thành viên đối với bên trong và bên ngoài của tổ chức đó.
Đồng thời, văn hóa của tổ chức chính là sự hiện diện sinh động và cụ thể nhất của tổ chức đó mà mọi ngƣời có thể dễ dàng nhận ra. Hình ảnh đó có thể do nhiều yếu tố cấu thành nên. Vì thế, chỉ cần một yếu tố có sự thay đổi thì về lý thuyết, hình ảnh về tổ chức đó sẽ bị khác đi. Do đó, trên phƣơng diện lý thuyết, sẽ không có tổ chức này có văn hóa giống tổ chức kia, dù họ có thể giống nhau.Khái niệm văn hóa công sở Nói đến VHCS tức là nói đến văn hoá của tổ chức đặc thù, có giới hạn không gian là các cơ quan nhà nƣớc và đối tƣợng thực hành VHCS là cán bộ, công chức, viên chức.
VHCS đƣợc hiểu một cách phổ biến là hệ thống các giá trị, các quy tắc giao tiếp ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán 10 z bộ công chức, các phƣơng thức, cách thức quản lý gắn với việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công sở. VHCS chịu ảnh hƣởng bởi những nét chung của văn hoá dân tộc và đặc điểm văn hoá, kinh tế, xã hội riêng của từng địa bàn lãnh thổ, đồng thời vừa phải tiếp thu những tinh hoa của văn hoá nhân loại. Trong mỗi công sở cũng có những nét văn hóa riêng của công sở đó và mỗi thành viên lại có những phƣơng thức làm việc riêng, tạo nét văn hoá riêng của mỗi cá nhân trong công sở. Quy chế VHCS tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định thực hiện những nội dung của VHCS nhƣ trang phục, giao tiếp, ứng xử xã hội của cán bộ công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ, cách bài trí công sở tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc.
Đây là những nội dung quan trọng của VHCS và cũng là phạm vi điều chỉnh của quy chế. Quy chế này cũng đƣa ra 3 nguyên tắc thực hiện VHCS: Một là phải phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc và điều kiện kinh tế – xã hội; Hai là phải phù hợp với định hƣớng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, hiện đại; Ba là phải phù hợp với các quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành chính, chủ trƣơng hiện đại hóa nền hành chính nhà nƣớc. Mục đích của việc thực hiện VHCS là nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nƣớc và xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ, hƣớng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đƣợc giao.Các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức Có một cách để phân nhóm các yếu tố cấu thành văn hóa một tổ chức hành chính nhƣ: yếu tố vật thể, phi vật thể…Song có nhiều nhà nghiên cứu tán đồng theo cách phân chia của Edgar H.Shein với việc chia văn hóa tổ chức hành chính bao gồm: (1) Những quá trình và cấu trúc hữu hình (2) Hệ thống giá trị đƣợc tuyên bố (3) Những quan niệm chung * Những quá trình và cấu trúc hữu hình: Đó là những cái có thể nhìn thấy, dễ cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức hành chính. Là những biểu hiện bên ngoài của văn hóa hành chính.
Những yếu tố này có thể đƣợc phân chia nhƣ sau: - Phong cách thiết kế kiến trúc xây dựng, nội - ngoại thất, trang thiết bị làm việc, các vật dụng, biểu trƣng. - Cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế điều hành hoạt động. - Những thực thể vô hình nhƣ: Triết lý, nguyên tắc, phƣơng pháp, phƣơng châm giải quyết vấn đề; hệ thống thủ tục quy định… - Các chuẩn mực hành vi: Nghi thức hoạt động sinh hoạt tập thể, cách thức tổ chức các hội nghị, ngày lễ, các hoạt động văn nghệ, thể thao, câu lạc bộ. - Ngôn ngữ, cách ăn mặc, chức danh.
- Các hình thức xử dụng ngôn ngữ nhƣ: các băng rôn, khẩu hiệu, ngôn ngữ xƣng hô, giao tiếp giữa lãnh đạo với nhân viên, cấp trên với cấp dƣới… các bài hát truyền thống. - Các hình thức giao tiếp và ứng xử với bên ngoài. * Về hệ thống giá trị được tuyên bố. 12 z Hệ thống giá trị tuyên bố bao gồm: các chiến lƣợc, mục tiêu, triết lý, giá trị cốt lõi, các bộ quy tắc ứng xử thành văn, các cam kết, quy định… Hệ thống giá trị tuyên bố là nền tảng, kim chỉ nam cho hoạt động của một tổ chức hành chính; chúng đƣợc công bố rộng rãi.
Những giá trị này có tính hữu hình vì ngƣời ta có thể dễ nhận biết và diễn đạt chúng một các rõ ràng, chính xác. Chúng thực hiện chức năng hƣớng dẫn, định hƣớng và là tài liệu đầu tiên diễn tả về một tổ chức hành chính. * Những quan niệm chung (niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên, ngầm định). Các ngầm định nền tảng thƣờng là những suy nghĩ và trạng thái xúc cảm đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi cá nhân cũng nhƣ tạo thành nét chung trong một tập thể.
Những ngầm định này thƣờng là những quy ƣớc bất thành văn, đƣơng nhiên tồn tại và tạo nền mạch ngầm kết dính các thành viên trong tổ chức; tạo nền tảng giá trị, lối suy nghĩ, cách hành động của họ. Hệ thống giá trị đƣợc tuyên bố và các ngầm định nền tảng của một tổ chức hành chính là những thƣớc đo đúng và sai, xác định những gì nên làm trong cách hành xử chung và riêng của lãnh đạo, nhân viên. Trong một tổ chức hành chính có thể đề cao giá trị nhân văn, tình yêu thƣơng giữa những đồng nghiệp hay đề cao tính cộng đồng trách nhiệm, sự sáng tạo, tính độc lập trong công việc, coi trọng tính trung thực, thẳng thắn, coi trọng chất lƣợng công việc.Shein cho rằng, bản chất của văn hóa một tổ chức là nằm ở những quan niệm chung của chúng. Nếu nhận biết văn hóa của một tổ chức ở cấp độ một và hai, chúng ta mới tiếp cận đƣợc nó ở bề nổi, tức là có khả năng suy đoán các thành viên của tổ chức đó “nói gì” trong một tình huống nào 13 z đó.
Chỉ khi nào nắm đƣợc lớp văn hóa thứ ba thì chúng ta mới có khả năng dự báo họ sẽ làm gì khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn. Tình hình văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Việt Nam hiện nay Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011 - 2012 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), thủ tục hành chính tiếp tục là rào cản lớn đối với nhà đầu tƣ khi thâm nhập thị trƣờng Việt Nam khi họ trung bình phải mất 44 ngày và trải qua 9 thủ tục để có giấy phép kinh doanh. Ở hai chỉ tiêu này, Việt Nam bị xếp hạng lần lƣợt là 119 và 94. [17] Qua điều tra xã hội học thì “có gần 60% các doanh nghiệp cho rằng, cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ có thái độ sách nhiễu doanh nghiệp; hơn 50% ý kiến đánh giá cán bộ, công chức thực thi công vụ còn hách dịch cửa quyền và khoảng 65% ý kiến cho rằng cán bộ, công chức thực thi công vụ còn yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc yếu kém về giao tiếp, ứng xử”.
[10] Thực tế đáng buồn, trong nhiều năm qua sự độc đoán chuyên quyền trong bộ máy công quyền của Việt Nam đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc, ảnh hƣởng đến trật tự xã hội, làm giảm năng lực cạnh tranh của Việt Nam, làm xuống cấp nét văn hóa công sở. Lỗi ở đây không phải là môi trƣờng làm việc - công sở, cái chính là những con ngƣời nơi đây - họ chƣa nhận thức đƣợc công việc của họ là phục vụ ngƣời dân, những ngƣời đang nộp thuế để trả lƣơng cho họ. Đội ngũ cán bộ, công chức còn có nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ, công chức. Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho không ít chủ trƣơng, chính sách đổi mới của Nhà nƣớc chậm đi vào cuộc 14 z sống, thậm chí đôi khi những quy định có tính chất cởi mở, thông thoáng có thể trở thành cơ hội cho những công chức thoái hoá biến chất lợi dụng để đục khoét, tham nhũng.
Mặt khác, ngƣời dân khi đến các công sở thƣờng e dè, ngƣợng nghịu, chƣa chủ động tìm hiểu quy trình, luật lệ, chính tâm lý thụ động này cũng tác động đến thái độ của công chức. Chính vì vậy, việc lập lại trật tự kỷ cƣơng; xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ công chức trong hoạt động công vụ là một đòi hỏi vừa khách quan vừa cấp bách. Thực trạng trên cho thấy, nhận thức về VHCS của các ngành, các cấp, các địa phƣơng chƣa đầy đủ, không thấy đƣợc mối liên hệ qua lại giữa trình độ văn hóa công sở với hiệu quả, năng suất của công việc tại công sở.