Chương I: Những vấn đề lý luận chung về văn hóa doanh nghiệp Chương II: Tìm hiểu thực trạng yếu tố văn hóa doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh trong Công ty liên doanh làng quốc tế Hướng Dương Chương III: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao văn hóa doanh nghiệp tại công ty liên doanh làng quốc tế Hướng Dương 3 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa Có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa mỗi khái niệm phản ánh một cách nhìn nhận đánh giá khác nhau. Văn hóa khó định nghĩa bởi vì nó nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Theo ngôn ngữ phương Đông văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trí giáo hóa. Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ấn của thiên nhiên, chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên. Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức,.) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai nghĩa:(1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt,(2)cầu cúng. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh.
Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận. Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa. Theo nhân loại học và xã hội học thì văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất.
Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến đời sống tinh thần mà còn bao gồm cả vật chất. 4 Trong tiếng việt,văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghỉa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn.
Trong khi theo nghĩa rộng,thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi,hiện đại,cho đến tín ngưỡng,phong tục,lối sống. + Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: -Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội. -Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát); -Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); -Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; -Văn hóa còn là cum từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn +Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa.
+Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. 5 +Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem văn hóa với nghĩa rộng nhất của nó: vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống , loài người mới tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn mặc ở, đi lại và phương thức sử dụng. Tất cả những sáng tọa và phát minh đó chính là văn hóa.
Văn hóa là sự tồn tại của mọi phương thức sinh hoạt cùng biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn. Như vậy tất cả mọi hoạt động của con người và trong hoạt động xã hội là đều có văn hóa. Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra 1.2 Văn hóa doanh nghiệp Khái niệm Xây dựng nền văn hóa kinh doanh về thực chất là việc thực hiện các điều kiện chủ quan và khách quan trên cơ sở phát huy những nhân tố tích cực và tự giác nhằm đẩy mạnh nhanh quá trình văn hóa trong mọi yếu tố cấu thành nên nền sản xuất kinh doanh. Cụ thể hơn xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp góp phần vào chiến lược xây dựng văn hóa kinh doanh không thể khác đó là việc nâng cao bản lĩnh trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên theo hướng ngày càng “chuyên nghiệp hóa” hơn.
Văn hóa doanh nghiệp và xây dựng văn hóa doanh nghiệp là vấn đề hết sức mới mẻ ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Ở Việt Nam vấn đề này 6 ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Nó được nhắc đến không chỉ trong các hội nghị hội thảo, các phương tiện thông tin đại chúng, các bài báo mà còn trở thành đề tài nghiên cứu khoa học củ nhiều nhà khoa học. Có rất nhiều quốn sách nghiên cứu sâu hơn về văn hóa kinh doanh, triết lý kinh doanh, đặc điểm kinh doanh như cuốn sách của các tác giả : Đỗ Minh Cương, Nguyễn Hoàng Anh, Phạm Xuân Nam, Vũ Đình Kiên.
Trên thế giới cũng có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề vai trò của văn hóa trong kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp. Vì vậy có rất nhiều cách hiểu khách nhau về văn hóa doanh nghiệp. Tuy nhiên tất cả đều tập trung phản ánh bản sắc nhấn mạnh vai trò, nền tảng vững chắc của văn hóa đối với sự phát triển của doanh. Nếu như văn hóa là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển vững chắc của xã hội thì văn hóa kinh doanh chính là linh hồn của một doanh nghiệp, đất nước.
Một số quan điểm tiêu biểu về văn hóa doanh nghiệp: Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị do doanh nghiệp sáng tạo nên và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình. Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể các truyền thống, các cấu trúc, các bí quyết kinh doanh xác lập lên qui tắc ứng xử của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ phương thức kinh doanh,quản lý điều hành kinh doanh, phong cách ứng xử với đối tác và nội bộ doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là những qui tắc ứng xử bất thành văn, là lực lượng vô hình trở thành qui định của pháp luật nhưng được các chủ thể tham gia thị trường hiểu và chấp nhận Trên thế giới cũng có một số quan điểm khác về văn hóa doanh nghiệp: Văn hóa doanh nghiệp là những phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức và phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng lưu truyền thường trong thời gian dài 7 Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ, giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ dễ nhận biết đến ẩn sau bên trong tiềm thức của tập thể mà phải qua thời gian dài mới hình dung ra được. Trong thời đại ngày nay để tìm được một chỗ đứng vững chắc các nhà quản lý cần xem xét một cách cẩn thận loại hình văn hóa phù hợp với doanh nghiệp mình, phát triển liên hệ nó với từng cá nhân trong tổ chức. Doanh nghiệp phải luôn giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa độc đáo, phát huy những ý tưởng mới đắc sắc. Đó chính là cơ sở để tạo ra những điểm khác biệt đối với các đối thủ cạnh tranh.
Vì vậy phải coi trọng yếu tố văn hóa trong kinh doanh nghĩa là kinh doanh phải tạo ra những giá trị văn hóa.Heriot từng nói “ Cái gì còn lại sau tất cả những cái khác bị lãng quyên - cái đó là văn hóa”. Điểu đó khẳng định văn hóa doanh nghiệp là một giá trị văn hóa tinh thần hơn thế nữa là một tài sản vô hình của doanh nghiệp.