CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Tín dụng xuất khẩu của ngân hàng thương mại. Khái niệm tín dụng xuất khẩu của ngân hàng thương mại. Trước khi đi vào khái niệm hoạt động tín dụng xuất khẩu của ngân hàng thương mại, tác giả đưa ra các lý thuyết liên quan để có cơ sở nhằm làm rõ khái niệm hoạt động tín dụng xuất khẩu và bản chất của nó để có thể tạo tiền đề tiếp cận, phân tích cho các chương tiếp theo.
Khái niệm ngân hàng thương mại Trải qua quá trình phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Theo Phan Thị Cúc (2008), “Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội”. NHTM còn được gọi là ngân hàng ký thác, là hình thái ngân hàng ra đời sớm nhất, gắn liền với sự xuất hiện của hoạt động ngân hàng.
Hoạt động của ngân hàng này rất đa dạng và tổng hợp nhiều nghiệp vụ, nhiều dịch vụ, nhưng chủ yếu là nhận tiền gửi của công chúng và thực hiện nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác (Lê Thị Tuyết Hoa & Đặng Văn Dân, 2017). Có thể nói, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. 1 Tại Việt Nam, theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 Hà Nội, ngày 16/06/2010: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Trong đó, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái niệm tín dụng xuất khẩu của NHTM Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa, xuất khẩu trở thành một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ cũng như tại mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp. Sự ra đời và phát triển tín dụng nói chung, tín dụng xuất khẩu nói riêng là một tất yếu khách quan gắn liền với các quan hệ mua bán thương mại giữa các nước khác nhau ngày càng gia tăng nhanh chóng theo xu hưởng mở cửa, hội nhập quốc tế. Do đó, nhu cầu tài trợ cho các hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp cũng gia tăng nhanh chóng cả về quy mô, cả về chất lượng và cả về tính đa dạng của các nghiệp vụ.
Cũng xuất phát từ nhu cầu khách quan đó, mối quan hệ tín dụng giữa NHTM và các doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2005), xuất khẩu là việc bán hàng hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài; gồm hai loại hình: XK hàng hóa (còn gọi là XK hữu hình), XK dịch vụ (còn gọi là XK vô hình). Như vậy, tín dụng xuất khẩu là gì? Từ khái niệm căn bản về xuất khẩu kết hợp với các cơ sở lý luận liên quan đến hoạt động cấp tín dụng tại NHTM, có nhiều diễn đạt, nhiều cách hiểu khác nhau Theo từ điển Ngoại thương và Tài chính Anh – Việt (1995), (English Vietnamese Dictionary of Modern International Trade and Finance) thì “Tín dụng xuất khẩu – Export Credit là hình thức “hỗ trợ tài chính” của một Chính phủ, hay một tổ chức tài chính để khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài”. 1 Từ đó tác giả khái quát về Tín dụng xuất khẩu của NHTM như sau: Tín dụng xuất khẩu là khoản tài trợ (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) của ngân hàng cho người xuất khẩu với mục đích hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa dịch vụ ra nước ngoài.
Tín dụng xuất khẩu bao gồm tín dụng cấp trong thời gian trước khi giao hàng hoặc hoàn thành dự án và thời gian sau khi giao hàng hoặc nhận hàng hoặc khi hoàn thành dự án. Với ý nghĩa đó, tín dụng xuất khẩu của NHTM còn được gọi là tài trợ xuất khẩu của NHTM. Tài trợ xuất khẩu bao gồm tài trợ trước khi giao hàng và tài trợ sau khi giao hàng. Tài trợ trước khi giao hàng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu có đủ năng lực tài chính để sản xuất, thu mua, khai thác chế biến danh mục hàng hóa xuất khẩu theo đơn hàng đã ký.
Tài trợ sau khi giao hàng sẽ giúp doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện chu chuyển vốn đảm bảo quá trình kinh doanh liên tục. Tại Việt Nam, các hoạt động tín dụng xuất khẩu của các NHTM chủ yếu gồm các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Do đó để phù hợp với thực tiễn Việt Nam cũng như những nội dung nghiên cứu ở phần tiếp theo của công trình nghiên cứu, và căn cứ vào khái niệm cấp tín dụng nói trên, luận văn cho rằng, hoạt động tín dụng xuất khẩu tại NHTM được hiểu là các NHTM sử dụng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng để thúc đẩy hoạt động XK hàng hoá và dịch vụ ra thị trường quốc tế. Qua đó có thể thấy rằng, tín dụng xuất khẩu của NHTM: – Về nghiệp vụ: Bao gồm các nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
– Về hình thức: Đó là tất cả các hoạt động tài trợ vốn của NHTM cho nhà XK hoặc doanh nghiệp nước NK. – Về mục đích: Nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, sản xuất kinh doanh, khuyến khích việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. – Về đối tượng của tín dụng xuất khẩu: Doanh nghiệp XK trong nước hoặc nhà NK quốc tế tiêu thụ sản phẩm trong nước. 1 – Về lợi ích: NHTM tham gia tín dụng xuất khẩu sẽ làm cho tổng mức dư nợ cấp tín dụng của NHTM tăng lên, thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín dụng xuất khẩu tăng nhờ thu lãi, thu phí dịch vụ và tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng thêm các sản phẩm mới từ việc thanh toán XK.
Các hình thức cấp tín dụng xuất khẩu của ngân hàng thương mại. Có rất nhiều cách phân loại hình thức cấp tín dụng, tuy nhiên, dựa trên đặc thù luân chuyển hàng hóa, nguồn vốn của doanh nghiệp xuất khẩu và hình thức tài trợ tương ứng của ngân hàng theo từng giai đoạn hình thành hàng hóa, bên cạnh đó, tham khảo các hình thức cấp tín dụng cơ bản, tài chính quốc tế liên quan (Hồ Diệu, 2001; Lê Văn Tư, 2004; Phan Thị Cúc, 2008), bài viết phân loại hình thức cấp tín dụng XK của NHTM theo hai hình thức cơ bản như sau: 1. Tín dụng xuất khẩu trước khi giao hàng Tín dụng xuất khẩu trước khi giao hàng là hoạt động tài trợ vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của NHTM đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, nhằm giúp doanh nghiệp có đủ vốn để sản xuất, kinh doanh, chế biến nguồn hàng xuất khẩu theo hợp đồng thương mại đã ký kết với nhà nhập khẩu ở nước ngoài. Đối tượng tài trợ là vật tư, hàng hóa,… cấu thành thành phẩm xuất khẩu.
TDXK trước khi giao hàng gồm các hình thức sau: Cho vay – Cho vay theo hạn mức: Là các khoản cho vay có thời hạn vay dưới 1 năm. Cho vay xuất khẩu ngắn hạn chủ yếu để phục vụ cho các nhu cầu chi trả chi phí trực tiếp cho thương vụ xuất khẩu theo các hợp đồng thương mại của nhà xuất khẩu như: cho vay mua nguyên vật liệu, điện, nước, trả lương công nhân và các chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu. Cho vay hạn mức phù hợp với những doanh nghiệp xuất khẩu có thị trường ổn định, thường xuyên, ít mang tính thời vụ. – Cho vay từng lần bổ sung vốn lưu động: Là cho vay dựa trên cơ sở hợp đồng ngoại thương đã ký kết, L/C cụ thể hay theo đơn đặt hàng.
Quyết định cho vay phụ thuộc chủ yếu vào tính hiệu quả của từng thương vụ và nguồn trả nợ cũng chính từ nguồn thu của thương vụ này. Thời hạn cho vay theo phương 1 thức này phụ thuộc vào điều khoản thanh toán của hợp đồng ngoại thương, L/C hoặc đơn hàng cụ thể và thường dưới 1 năm. Hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu theo mùa vụ, sản xuất theo đơn hàng, không mang tính ổn định, thường xuyên. – Cho vay từng lần tài trợ dự án: Hình thức này chủ yếu tài trợ cho việc mở rộng khả năng sản xuất cho nhà xuất khẩu như mở rộng nhà máy, mua sắm thêm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, đầu tư tài sản cố định phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.
Thời hạn cho vay chủ yếu là trung và dài hạn (trên 1 năm). Việc thẩm định và ra quyết định cho vay dựa trên nguồn thu dự kiến từ các hợp đồng xuất khẩu, tuy nhiên các ngân hàng sẽ ưu tiên tài trợ cho các dự án có nguồn thu từ các hợp đồng có hình thức thanh toán là thư tín dụng hoặc bảo lãnh của ngân hàng nước ngoài hoặc được chính phủ bảo lãnh thanh toán. Bảo lãnh xuất khẩu Bảo lãnh xuất khẩu là cam kết của NHTM với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh/người thụ hưởng) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh là nhà xuất khẩu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bảo lãnh xuất khẩu có các hình thức sau: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán ứng trước.