mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng tam năm 1945” (Tap chí Nghiên cứu văn học số 9/2005) — Phong Lê; “Về một hướng thử nghiệm của tiêu thuyết Việt Nam gan đây” (Tap chi Nghiên cứu văn học số 11/2005) - Nguyễn Thị Bình; “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Tap chí Nghiên cứu văn học số 11/2006) — Bich Thu;. Trong các tác phẩm đã nêu, các bài viết của Văn Giá, Nguyễn Hòa, Nguyễn Thị Bình, Phong Lê tập trung vào tính thời sự, tính “văn học sử” của tiêu thuyết đương đại; trong khi đó các bài viết của Lý Hoài Thu, Bùi Việt Thắng, Bích Thu,. lại hướng sự chú ý sang khía cạnh “thi pháp thé loại”, những biến đổi về mặt thé loại so với giai đoạn trước. Tác giả Bích Thu đề cập đến vấn đề cách tân cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ.
Tác giả Lý Hoài Thu cũng đặc biệt chú ý đến sự đa thanh về giọng điệu, sự linh hoạt của kết cấu, sự gia tăng-xê dịch điểm nhìn, sự đảo lộn-gãy khúc của không gian và thời gian. Đây chính là những tiền đề thực tiễn và lý thuyết quý báu để chúng tôi tiễn hành luận án nghiên cứu “cấu trúc thé loại” của mình. Cuối cùng, các công trình nghiên cứu khoa học (luận văn, luận an.) tìm hiểu tiêu thuyết Việt Nam những năm gan đây cũng là một mảng tài liệu tham khảo quan trọng cho người viết: “Người kề chuyện trong tiểu thuyết Việt 10 Nam đương đại” (Thái Phan Vàng Anh, Luận án Tiến sĩ văn học , Học viện Khoa học Xã hội, 2010); “Yếu tổ trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương dai” (Tran Thị Hạnh, Luận an Tiến sĩ văn học , Học viện Khoa học Xã hội, 2012); “Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương dai” (Dinh Thị Thu Hà, Luận án Tiến sĩ văn học, Học viện Khoa học Xã hội, 2012); “Kết cau tiểu thuyết Việt Nam đương dai” (Nguyễn Thị Ninh, Luận án Tiến sĩ văn học, Học viện Khoa học Xã hội, 2012); “7iyêu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đương dai” (Đỗ Hải Ninh, Luận án Tiến sĩ văn học, Học viện Khoa học Xã hội, 2012); “Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới” (Nguyễn Thị Kim Tiến, Luận án Tiến sĩ văn học , Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn , 2012);. Hầu hết các luận văn , luận án đều đi sâu tìm hiểu một số hiện tượng tác giả hoặc xu hướng tiêu biểu của tiêu thuyết thời kỳ Đôi mới (từ 1986 đến nay).
Luận án của Đỗ Hải Ni nh mang đến một cái nhìn giàu tính lý luận về một “xu hướng vận động” trong nên tiêu thuyết đương đại. Tuy nhiên, do sự lựa chọn riêng của tác giả nên công trình chỉ “khoan sâu” vào một “trận địa” (khuynh hướng tự truyện ) chứ không có chủ đích phác thảo bức tranh chung của cả nên tiêu thuyết. Tương tự, các luận án của Thái Phan Vàng Anh, Nguyễn Thị Ninh, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Thị Kim Tiến. lại tập trung vào một khía cạnh thuộc phương thức trần thuật (người ké chuyện, điểm nhìn trần thuật , kết cấu), hình tượng thâm mỹ (con người, nhân vật) hoặc một yếu tố thuộc bình diện thắm mỹ (yếu tố trào lộng).
“Điểm dừng” của các công trình nêu trên sẽ là “điểm xuất phát” cho chúng tôi trong đề tài luận án của mình. Về vấn đề nghiên cứu “thi pháp thể loại” của các tác phẩm cụ thé, bên cạnh các công trình ở dạng sách nghiên cứu và tạp chí chuyên ngành, chúng tôi nhận thấy có một “đời sống” đặc biệt sôi động của tiểu thuyết đương đại trên báo viết, Internet và các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở đây chúng tôi đặt ra ranh giới báo viết và báo điện tử/trang web điện tử cũng chỉ mang tính tương đối. (Bởi lẽ, có khá nhiều bài phê bình trên báo viết 11 được chuyền lên báo điện tử; hoặc ngược lại, nhiều cuộc thảo luận trên báo điện tử lại được tổng thuật lại, tóm tắt lại trên báo viết.) Sự liên thông này phản ánh tính năng động, da dạng của các kênh phát hành tác pham của nhà văn hay phản hồi với tác pham của độc giả.
Trên báo viết, trong khoảng 10 năm đầu thé ky, nhiều tiểu thuyết được giới thiệu khá nhanh chóng ngay từ khi mới ra đời và thu hút được sự quan tâm theo dõi của các nhà phê bình văn chương trong và ngoài nước. Một số tác phâm còn trở thành đối tượng tranh luận/bình luận khá sôi nổi: như Ba người khác, Dòng sông Mia, Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Phố Tau (Chinatown), Thiên than sam hồi , Coi người rung chuông tận thé. Đặc biệt, các tờ báo chuyên sâu về văn nghệ như Văn nghệ, Văn nghệ trẻ. cũng thường xuyên có bài viết về các tác phâm, nhất là quanh thời điểm chúng ra đời.
Có thê nói, đời sống của các tiêu thuyết thuộc các “làn sóng” khác nhau đầu thế kỷ XXI này đặc biệt sôi nồi trên các báo điện tử, các trang web chính thức của các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy văn chương (như Viện Văn học, Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Bên cạnh đó, các blog cá nhân, các trang thư viện online luôn thường xuyên đăng tải, giới thiệu và bình luận về chúng, những website văn chương được quan tâm nhiều như evan. cũng dành rất nhiều không gian cho tac pham của Nguyễn Binh Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận, Mạc Can, Nguyễn Ngọc Tư. (Đáng chú ý là các bài viết: “Sáng tao văn học giữa mơ và điên” — Doan Cầm Thi (http://www.vn); I'm yellow: khoái cảm văn bản- Đoàn Cam Thi (http://www.org); “Thoạt kỳ thuỷ trong vùng dat Cam Cam hoang vu của Nguyễn Bình Phuong” - Thụy Khuê (http://www.vn); “Tiéu thuyết Chinatown và những chiều kích hiện tại của thời gian quá khứ” - Nguyễn Chí Hoan (http://www.vn); “Khải Huyền muộn”, cuốn tiểu thuyết về chính nó” - Nguyễn Chí Hoan (http://www.
) 12 Song không gian ấy — do đặc trưng của phương thức giao tiếp với độc giả - cũng chủ yếu dừng lại ở các bài điểm sách hay phê bình ngắn gọn và mang tính lẻ tẻ, chưa trở thành công trình nghiên cứu công phu về một thê loại trong một thời đại nhất định. Về vấn đề nay, chỉ có một vải ngoại lệ it oi: như tiêu luận của Văn Giá — “Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây” (đăng trên báo Văn nghệ số 26/2005; sau đăng lại trên http://www.vn); của Trịnh Thanh Thủy — “Siêu tiểu thuyết của thời hậu hiện dai” (http://www. Day là những bài viết có hàm lượng lý luận cao và có ý nghĩa phương pháp luận, bước đầu nêu lên những đặc điểm của tiểu thuyết Việt Nam đương đại dựa trên sự phân tích cặn kẽ những tác phẩm cụ thé. Một số van dé được đưa ra bàn luận: như “Tiểu thuyết Việt Nam dang ở đâu”, “Văn chương trên mạng”.vn), hay “Phái tính/sex trong văn học Việt Nam đương đại” (http://www.org) cũng đem lại nhiều nhận định và kiến giải sâu sắc, có giá trị.
Song tựu trung, chúng van chỉ là các tiêu luận hay các phát biểu ngắn- bàn về thể loại từ một góc độ tiếp cận nào đó mà chưa nhìn thẻ loại từ đầy đủ hai cấp độ: cấp độ văn bản và siêu văn bản, do vậy cũng chưa nhìn nhận rõ con đường và các khả năng phát triển cũng như các giới hạn của thê loại. Nói chung, bên cạnh những bài viết mang tính “thời sự văn học”, hầu hết là các bài viết đều tập trung bình luận nội dung và hình thức thé hiện của tác phẩm, những khám phá của nhà văn trong việc tái hiện hiện thực, song rất ít hoặc hầu như chưa có bài báo nào đặt van đề nghiên cứu tổng thé các tiêu thuyết cùng thời điểm. Thêm nữa, vẫn đề cách tân thể loại, so sánh sự khác biệt và biến đổi của tiểu thuyết thời kỳ này với tiêu thuyết những giai đoạn trước cũng chưa được chú ý đúng mức. Những thành tựu và điểm dừng của việc nghiên cứu tiểu thuyết đương đại Mặc dù có nhiều khuynh hướng, quan điểm tiếp nhận và phê bình khác nhau song tât cả đêu đã thê hiện sự quan tâm của độc giả nói chung và giới 13 phê bình nói riêng với nén tiêu thuyết đương đại — và xa hơn là nền văn học đương đại — của nước nhà.
Một số tác pham đã dành được sự đón nhận rộng rãi và đến được với độc giả ở nhiều tang lớp khác nhau (như Tam ván phóng dao, Cánh dong bất tận). Nhiều bài phê bình đã chỉ ra được sự đổi mới, bứt phá trong bút pháp, trong phương thức tự sự và đặc biệt là cách tiếp cận hiện thực của các tiêu thuyết đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, giới hạn chung của các bài viết nói trên là chưa có tính khái quát về điện mạo chung của tiểu thuyết thời kỳ này; chưa chỉ ra những nguyên nhân phát triển của chúng - đặc biệt từ phía bản chất thể loại, hay cấu trúc thé loại; chưa làm 16 sự giao thoa của tiểu thuyết với các thể loại khác như một trong những động lực thúc đây nền văn học chuyền động. Một điều cần bàn đến là tính hệ thống của chúng: các bài phê bình mới chỉ ở đạng lẻ tẻ, chưa có sự xâu chuỗi các tác giả/tác phẩm lại với nhau trong một bối cảnh chung của nền văn học nước nhà; những ảnh hưởng ngoại lai của văn chương thế giới; sự đổi thay của đội ngũ sáng tác;.Các tác phẩm thường được theo dõi như sự nối tiếp của phong cách và phương hướng sáng tác của một tác giả cụ thể từ trước đó mà ít hoặc không được xem xét như một sự bứt phá chung của thể loại trong một thời đoạn nhất định; nghĩa là chú ý đến bình diện lịch đại hơn đồng đại hoặc không kết hợp hai bình diện ấy một cách hài hoà, nhuần nhuyễn.
Nhiều bài phê bình còn mang tính nhận diện hoặc thể hiện thái độ “cực đoan” trước cái mới (quá đề cao/ quá hạ thấp), do đó đánh mat quan điểm tiếp cận thật sự chân thực, khách quan về tác phẩm. Trả lời cho hàng loạt câu hỏi nêu trên, góp thêm một cái nhìn, một nhận định mang tính lý luận và hệ thống về tiểu thuyết Việt Nam đương đại là nhiệm vụ va cũng là mục đích lớn nhất mà luận án này đặt ra. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.