Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thương mại điện tử và hoạt động Logistics Chương 2 : Phương pháp và hướng nghiên cứu về thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. Chương 3 : Thực trạng phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. Chương 4: Một số giải pháp phát triển thương mại điện tử trong hoạt động Logistics tại Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. 8 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 1.
Cơ sở lý luận về thƣơng mại điện tử 1. Khái niệm về thương mại điện tử (E-commerce) Trước khi đi vào khái niệm về thương mại điện tử chúng ta xem xét qua về khái niệm kinh doanh điện tử: Kinh doanh điện tử (Electronic Business) là một bước biến đổi cơ bản của các phương thức kinh doanh thông qua việc sử dụng các công nghệ của mạng máy tính Internet, Intranet. Hiện nay có nhiều quan điểm về định nghĩa thương mại điện tử. - Quan điểm thứ nhất: Thương mại điện tử được định nghĩa một cách đơn giản là sự chuyển giao các giá trị qua Internet của một trong bốn dạng hoạt động: Mua, Bán, Đầu tư và vay mượn.
- Quan điểm thứ hai với nghĩa rộng: Thương mại điện tử gồm các giao dịch tài chính và thương mại được thực hiện bằng các phương tiện điện tử. - Quan điểm thứ ba xuất phát từ thực tiễn của thương mại điện tử:Thương mại điện tử là các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng thông tin toàn cầu Internet. Hiểu theo quan điểm thứ hai thì thương mại điện tử thực tế đã tồn tại từ rất lâu. Có lẽ sớm nhất và phổ biến nhất là người ta ứng dụng hoạt động kinh doanh của mình qua điện thoại, sau đó nổi bật nữa là truyền hình, fax, radio.đây cũng là các phương tiện điện tử được ứng dụng khá rộng rãi trong hoạt động thương mại.
Tuy nhiên các hình thức nàychỉ hỗ trợ cho thương mại. Trong hầu hết các hoạt động thương mại các phương tiện này không thực hiện được một cách hoàn chỉnh. Song nhờ Internet người ta có thểthực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thương mại như: mua bán, chào hàng, chọn hàng, ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán, bảo hành, các dịch vụ sau bán.Do vậy trên thực tiễn nói thương mại điện tử, người ta 9 z thường hiểu là loại trừ các phương tiện điện tử không phải là Internet. Thương mại điện tử là hoạt động thương mại bằng phương tiện Internet.
Như vậy, theo quan điểm thực tiễn thương mại, có thể đưa ra một định nghĩa về thương mại điện tử như sau:" Thương mại điện tử là việc sử dụng các công nghệ mạng Internet trong các hoạt động giao dịch thương mại". Trong Luật mẫu về thương mại điện tử của Liên Hợp Quốc - UNCITRAL Model Law on electronic commerce - không có điều khoản nào định nghĩa về thương mại điện tử. Tuy nhiên hiểu theo tinh thần điều chỉnh của luật này thì "Electronic Commerce" cần được hiểu theo nghĩa rộng ở trên. Luật về thương mại điện tử Luật mẫu về thương mại điện tử Liên Hợp Quốc Cấu trúc của luật mẫu về thương mại điện tử của Liên Hợp Quốc được chia làm hai phần: - Phần một liên quan đến những vấn đề chung về thương mại điện tử - Phần hai liên quan đến vấn đề thương mại điện tử ở một số lĩnh vực xác định.
Điều đáng lưy ý là trong phần hai của Luật mẫu quy định thương mại điện tử trong một số lĩnh vực, đến nay do chưa được hoàn thiện đầy đủ mới công bố có một chương liên quan đến việc áp dụng thương mại điện tử vào lĩnh vực vận tải hàng hóa. Các khía cạnh khác của thương mại điện tử chưa được đề cập tới, vì vậy Luật mẫu được xem như một công cụ mở và còn được bổ sung theo thực tiễn áp dụng. Thực tiễn ở một số nước, luật pháp hiện tại về việc quản lý trao đổi thông tin, vẫn có những cách hiểu đã lỗi thời trong thời đại thương mại điện tử. Dựa vào các điều luật này trong các hoạt động thương mại điện tử, các doanh nghiệp có thể xem đây là một khuôn khổ, một nền tảng, chỗ dựa để thực hiện các hành vi thương mại 10 z của mình, được bảo vệ về mặt pháp lý.
Đối với các quốc gia, đây là một hình mẫu để phát triển những khuôn khổ pháp luật của mình hợp với các thông lệ quốc tế. Việt Nam Tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giao dịch điện tử. Tháng 6 năm 2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử. Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 "Về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính" , số 26/2007/NĐ- CP ngày 15/02/2007 "Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số" , số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 "Về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng".
Nội dung chủ yếu của Nghị định về thương mại điện tử năm 2006 là thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngoài ra có một số quy định cụ thể khác. Cho tới cuối năm 2012 thương mại điện tử ở Việt Nam phát triển nhanh và đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện những mô hình mang danh nghĩa thương mại điện tử thu hút rất đông người tham gia nhưng gây tác động xấu tới xã hội. Ngày 16 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử thay thế cho Nghị định năm 2006. Nghị định mới đã quy định những hành vi bị cấm trong thương mại điện tử, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho thương mại điện tử, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến. Quy trình thực hiện một hoạt động thương mại điện tử Một hoạt động thương mại điện tử diễn ra có thể được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một phương thức để quảng cáo giới thiệu hàng hoá, có doanh nghiệp chỉ áp dụng thương mại điện tử như một công cụ để tiến hành các trao đổi giao dịch v.Tuy nhiên xét một cách tương đối đầy đủ thì hoạt động thương mại điện tử có thể diễn ra theo một trình tự như sau: 1. Doanh nghiệp xây dựng cho mình mộtcơ sở kinh doanh điện tử trên Internet.
Đây được coi như là một trụ sở giao dịch, kinh doanh của doanh nghiệp. Khách hàng tới cơ sở kinh doanh điện tử của doanh nghiệp, bằng cách truy cập vàođịa chỉ trên Internet của cơ sở kinh doanh đó. Khách hàng và doanh nghiệp tiến hành trao đổi cáctài liệu, chứng từ điện tử. Việc đặt hàng có thể dễ dàng thực hiện trên Internet, chỉ đơn thuần bằng việc gửi chào hàng, chấp nhận chào hàng hay gửi phiếu đặt hàng và chấp nhận cung cấp hàng.Tất cả quy trình này đều thực hiện trên Internet.
Giao hàng và thanh toán. Với một số dạng hàng hoá, người ta có thể thực hiện giao hàng ngay trên Internet, chẳng hạn: các sản phẩm phần mềm, tài liệu kỹ thuật hay bất cứ hàng hoá nào dưới dạng thông tin khác. Cùng với quá trình giao hàng, thì việc thanh toán cũng diễn ra. Đối với những nước có hệ thống ngân hàng hiện đại, thanh toán có thể diễn ra ngay trên Internet, nhờ hệ thốngthanh toán điện tử và tiền điện tử.
Các phương tiện sử dụng trong hoạt động thương mại điện tử Cơ sở kinh doanh điện tử - Website. Internet, với các tính năng đặc biệt của nó, đã giúp cho xã hội hình thành nên một hình thức tổ chức mới đó là hình thức tổ chức ảo. Tức là: các tổ chức có thể thực hiện các hoạt động của mình thông qua mạng toàn cầu Internet. Trong hoạt động kinh doanh thì Website là các "Cơ sở kinh doanh ảo".“ Cơ sở kinh doanh trên 12 z Internet ” là một địa điểm trên Internet, từ đó doanh nghiệp có thể quảng cáo, tiếp thị, bán sản phẩm, tìm nhà cung cấp hay giao tiếp với khách hàng thông qua trao đổi điện tử với những người sử dụng Internet khác nhau trên toàn thế giới.
Cơ sở kinh doanh này không giống như cơ sở kinh doanh thông thường. Nó có một địa chỉ nhưng lại ở khắp nơi trên hành tinh, tất cả các khách hàng có thể đến với nó bất cứ lúc nào với thời gian hoạt động liên tục 24/24 giờ khi có nhu cầu. Điều đặc biệt thuận lợi khi áp dụng trong kinh doanh quốc tế khi có sự chênh lệch thời gian, ngày đêm ở các nước khác nhau. Cơ sở kinh doanh này cũng mở ra một phương tiện quảng cáo mới, một phương thức giao tiếp qua lại trực tiếp với khách hàng mới, một công cụ nghiên cứu thị trưòng và thu thập thông tin mới, đảm bảo sự thuận tiện, hiệu quả hơn những giải pháp truyền thống vẫn thường được sử dụng trước đây.
Địa chỉ trên Internet Nhờ địa chỉ này mà khách hàng mới đến được với doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động thương mại điện tử. Cùng với việc thiết lập Website thì doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký địa chỉ tại các nhàcung cấp dịch vụ Internet hay các tổ chức chuyên cung cấp địa chỉ khác. Đăng ký địa chỉ là vấn đề được nhiều nhà doanh nghiệp quan tâm và yêu cầu làm sao cho địa chỉ của mình dễ nhớ, ngắn gọn, truy tìm nhanh. Có một số cách đăng ký địa chỉ phổ biến hiện nay như sau.
Đăng ký địa chỉ ở nước ngoài: Doanh nghiệp có thể đăng ký cơ sở kinh doanh của mình với những nhà cung cấp dịch vụ Internet ở nước ngoài như Yahoo, Altavista,. hoặc truy cập trực tiếp vào Internic – một tổ chức chuyên cung cấp địa chỉ cho người sử dụng. Địa chỉ trang Web của cơ sở này làhttp://www. Khách hàng có thể đăng ký bất kỳ tên địa chỉ nào miễn là tên đó không trùng với những tên đã đăng ký trước với internic.
Địa chỉ này thường được cấp là http://www.com 13 z Đăng ký địa chỉ ở Việt Nam: ởViệt Nam địa chỉ trang Web được cấp như sau: http://www.ten doanh nghiệp. Khi đăng ký địa chỉ Website tại Việt Nam doanh nghiệp có thể liên hệ trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ Internet của mình.