phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương được trình bày như sau: e Chuong! : Cơ sở lý luận về thương hiệu. e Chuong2 : Thực trạng xây dựng và phát triển thương hiệu Ngân hàng Thương mại Cô phần Ngoại thương Việt Nam. e Chương3 : Giải pháp phát triển thương hiệu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam — CHƯƠNGI CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ THƯƠNG HIỆU 1. Định nghĩa thương hiệu và các thành phan thương hiệu: 1.
Thương hiệu là gì? 1. Lịch sử thương hiệu: Thuật ngữ tiếng Anh “brand" (thương hiệu) bắt nguồn từ chữ "burning" (đốt cháy), một từ thông dụng theo nghĩa kinh doanh có nghĩa là đốt cháy lên da hoặc lông của các con thú nuôi, gỗ, kim loại đúc hoặc các hàng hóa khác thời xưa để in ký hiệu riêng lên đó. Đến thế kỷ XIX, theo từ điển Oxford, từ này đã mang nghĩa là dâu hiệu của nhãn hiệu thương mại. Vào giữa thế kỷ XX, từ "brand" phát triển rộng ra đề bao gồm cả những hình ảnh về một sản phẩm được ghi lại trong tâm trí người tiêu dùng tiềm năng hoặc cụ thể hơn là quan niệm về một người hay vật nào đó.
Ngày nay, "brand" được hiểu là tổng hòa tất cả các thông tin về một sản phẩm, dịch vụ hay một Công ty được truyền đạt tới đối tượng mục tiêu bằng tên gọi hoặc các dau hiệu nhận biết khác, như logo hoặc hình tượng. Những người cổ đại thời kỳ đồ đá vẫn thường trao đổi với nhau những vũ khí được thiết kế khác biệt với vẻ ngoài đem lại cảm tưởng sẽ giúp họ thành công hơn trong săn bắn. Từ xưa, khi loài người biết đúc kim loại, nhiều người đã đúc lên sản phẩm tên họ của mình như một chứng tích khẳng định chất lượng của sản phẩm. Đây cũng là nền tảng của thương mại: nếu không có thông tin về danh tiếng của một người sản xuất hay người bán, hoạt động thương mại hăn nhiên sẽ bị ngừng trệ.
Tuy nhiên, quyên lực thực sự của các nhãn hiệu lại có từ khi dau hiệu này được truyền từ một cá nhân nào đó sang một cộng đồng kinh doanh lớn hơn. Quá trình chuyển đổi này tăng cường giá trị nhãn hiệu, mở rộng mức độ ảnh hưởng của nó và kết quả là nó tạo ra của cải vật chất cho người sở hữu. Nhận thức chung về thương hiệu: ` Hiện nay thuật ngữ về thương hiệu đang được sử dụng rất rộng rãi ở Việt Nam. Tại rất nhiều diễn đàn cũng như trên hầu như tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đều nói đến thương hiệu, tuy nhiên vẫn đang tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau xoay quanh thuật ngữ này.
Các quan niệm về thương hiệu: Nhiều người cho rằng thương hiệu chính là nhãn hiệu thương mại (trade mark), cách nói khác của nhãn hiệu thương mại (sau đây sẽ được gọi tắt là nhãn hiệu). Việc người ta gọi nhãn hiệu là thương hiệu chỉ là sự thích dùng chữ mà thôi và muốn gắn nhãn hiệu với yếu tố thị trường, muốn ám chỉ rằng, nó (nhãn hiệu) có thể mua bán như những loại hàng hóa khác (sự xuất hiện của chữ thương trong thương hiệu). Nhưng thực tế, theo cách mà mọi người thường nói về thương hiệu thì thuật ngữ này bao hàm không chỉ các yếu tố có trong nhãn hiệu mà còn cả các yếu tố khác nữa như khẩu hiệu (slogan), hinh dang và sự cá biệt của bao bì, âm thanh, vv.Có người lại cho rằng thương hiệu là nhãn hiệu đã được đăng kí bảo hd, va vi thế nó được pháp luật thừa nhận và có khả năng mua đi bán lại trên thị trường. Chỉ những nhãn hiệu đã được đăng kí thì mới có thể mua đi bán lại.
Rõ ràng, theo quan niệm này thì những nhãn hiệu chưa tiến hành đăng kí bảo hộ sẽ không được coi là thương hiệu.Vậy thì Vietcombank là một thương hiệu ở Việt Nam (do đã được đăng kí bảo hộ), nhưng sẽ không được coi là một thương hiệu tại thị trường Hoa Kỳ (vì chưa đăng ký bảo hộ tại Mỹ)? Cũng có quan điểm cho răng thương hiệu là thuật ngữ để chỉ chung cho các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và xuất xứ. Quan điểm này hiện nay đang được nhiều người ủng hộ. Tuy nhiên cũng cần thấy răng, một nhãn hiệu có thể bao gồm cả phân tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý (ví dụ rượu vang Bordaux, kẹo dừa Bến Tre, trà Thái Nguyên.) và những nhãn hiệu có thể được xây dựng dựa trên cơ sở phần phân biệt trong tên thương mại (ví dụ, Vinacotex từ tên Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Vinacotex,. Một quan niệm khác thì cho rằng, thương hiệu chính là tên thương mại, nó được dùng để chỉ hoặc-và được gán cho doanh nghiệp (ví dụ Honda, Yamaha,.
Theo quan niệm này thì Honda là thương hiệu còn Future và Superdream là nhãn hiệu hàng hóa; Yamaha là thương hiệu còn Sirius và Jupiter là nhãn hiệu hàng hóa. Mobiphone là thương hiệu, còn Mobi-4U là nhãn hiệu dịch vụ. Một số tác giả nước ngoài (theo nhiều tài liệu dịch), quan niệm thương hiệu (Brand) là một cái tên hoặc một biểu tượng, một hình tượng dùng để nhận diện và phân biệt sản phẩm và doanh nghiệp với sản phẩm và doanh nghiệp khác. Biểu tượng, hình tượng có thể là logo, tên thương mại một nhãn hiệu đăng kí, một cách đóng gói đặc trưng.
và cũng có thể là âm thanh. Nếu theo cách hiểu này thì thương hiệu là một thuật ngữ có nội dung thật rộng, chúng không chỉ bao gồm các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ như nhãn hiệu, mà có thể gồm các dấu hiệu khác như âm thanh, cách đóng gói đặc trưng. Định nghĩa thương hiệu: Trên cơ sở các quan niệm khác nhau, thương hiệu được Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa một cách tương đối như sau: Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình hay vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức. Thương hiệu được gắn liền với nha sản suất hay nhà cung cấp dịch vụ.
Theo tôi, thương hiệu là những đặc điểm riêng biệt của một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ nào đó của cá nhân hay tô chức nào đó phân biệt với sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ của cá nhân tổ chức khác và được bảo hộ bởi một tổ chức bảo vệ thương hiệu. Các thành phần của thương hiệu: Đề xây dựng thương hiệu mạnh, có vị trí trên thị trường, doanh nghiệp cần xác định các thành phần quan trọng của thương hiệu với những bản sắc riêng như sau: - - Tính cách thương hiệu: Thiết kế một tính cách riêng cho thương hiệu của mình, có cá tính rõ ràng để mọi người nhớ đến, đề nổi bật trong đám đông. Cá tính rõ ràng này sẽ góp phan quan trọng để định hình những chỉ tiết còn lại trong bức tranh thiết kế một thương hiệu mạnh. - - Tên thương hiệu: Đi sau cái cá tính, và đặt tên phải phù hợp với cái cá tính đó để dễ gây ấn tượng, và tồn tại trong lòng khách hàng.
Tên thương hiệu có thế là tên một người, hoặc tên địa danh chung chung hoặc tên ghép từ những chữ cái với nội dung hàm chứa bên trong mà chỉ có chủ thương hiệu mới biết chính xác được. Nghĩa của cái tên phải phù hợp với nhiều địa phương, nhiều quốc gia trên thế giới. - _ Biểu tượng thương hiệu (logo): Logo phải nói lên cá tính, đặc điểm và ý nghĩa văn hóa đặc thù của thương hiệu đó: logo phải có sự khác biệt rõ rệt so với một rừng logo khác làm cho người tiêu dùng liên tưởng ngay đến sản phẩm của thương hiệu. Logo đẹp, gần gũi mới tạo nên thiện cảm nơi người tiêu đùng: hoa văn, kiểu chữ, dấu hiệu đặc biệt nào đó có khả năng tạo ấn tượng và sự nhận biết chỉ qua một ánh mắt nhìn của khách hàng.
- - Hình tượng thương hiệu: Các thương hiệu thường chọn một nhân vật nào đó hay một con vật làm hình tượng (icon) cho mình. Các hình tượng này đều nhằm mục đích diễn tả tính cách riêng biệt của thương hiệu — cũng như logo và giúp thương hiệu trở nên gần gũi hơn với khách hàng. - - Khẩu hiệu thương hiệu (slogan): Là một câu, lời văn ngắn gọn diễn tả cô đọng về lợi ích hay nét tính túy của sản phẩm. Âm điệu của khẩu hiệu phải nghe thuận tai, đôi khi pha chút dí dỏm, cách điệu mới dễ nhớ, ấn tượng Slogan thường hiệu quả trên tivi, radio hơn là báo chí, hay tài liệu in ấn (có hai loại: loại có định đi xuyên suốt với thương hiệu và loại dành cho chương trình ngắn hạn, mang tính khuyến mãi, quảng bá cho một đợt sản phẩm hay dịch vụ mới nào đó).
- Bao bi, mau sac thương hiệu: Bao bì là nguyên liệu tối quan trọng trong quy trình thiết kế một thương hiệu mạnh. Bao bì phải đáp ứng được các điều kiện: dễ cầm, dễ mở, dễ cất, dễ sử dụng, dễ xử lý khi bỏ di. Dac điểm này thường có ở những sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ ngân hàng thì không có thành phan nay. - - Đăng ký bảo hộ thương hiệu: Đăng kí, bảo hộ thương hiệu là các doanh nghiệp đăng kí bất cứ những gì mà mình nghĩ là đặc biệt và thuộc quyền sở hữu trí tuệ của riêng mình.
Đăng kí, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nhưng phải găn với một hay nhiều sản phẩm dịch vụ. Công sức và chi phí bỏ ra cho công tác bảo hộ thương hiệu là khoản đầu tư đường dài của thương hiệu (phải đầu tư cho việc giám sát, thưa kiện, khiếu nại, những vi phạm có thể xảy ra bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào). Ngoài tên thương hiệu ra, doanh nghiệp nên cân nhắc đăng ký bao vây các tên miền, địa chỉ e-mail và cả tên thương hiệu tương tự đề phòng những tay trộm chuyên đi tìm khe hở để tống tiền chủ thương hiệu. Vai trò và chức năng của thương hiệu: 1.
Vai trò thương hiệu trong sự phát triển cúa doanh nghiệp, đất nước và trong nhận thức của khách hàng: 1.