Chương 1 là cơ sở lý luận cần thiết để tác giả nghiên cứu các chương tiếp theo của luận văn. _Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại BIDV CN NĐN giai đoạn 2016 – 2019. Trong chương 2 tác giả sẽ giới thiệu về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của BIDV nói chung và BIDV CN NĐN nói riêng. Trình bày các nội dung cụ thể như sau: 1.
Thực trạng PTDV NHBL tại BIDV CN NĐN giai đoạn 2016 - 2019. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự PTDV NHBL 3. Kết quả khảo sát ý kiến của khách hàng về BIDV CN NĐN 4. Đánh giá chung về sự PTDV NHBL _Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ NHBL tại BIDV CN NĐN.
Trong chương 3 tác giả đưa ra các giải pháp phát triển dịch vụ NHBL dựa trên thực trạng. Ngoài ra tác giả còn đưa ra một số kiến nghị với NH giúp dịch vụ NHBL tại chi nhánh phát triển tốt hơn trong tương lai. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Theo Trầm Thị Xuân Hương - Hoàng Thị Minh Ngọc (2011), NHTM là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng (NH) có lịch sử ra đời rất lâu, 3000 năm trước công nguyên.
Từ nghề đổi tiền của một số thương nhân dần dần hình thành nên các tổ chức nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, thanh toán… hoạt động như các NHTM. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay. Các NHTM không ngừng phát triển hình thành mạng lưới rộng khắp toàn cầu, hoạt động NH có tính hệ thống cao, được xem như một kênh chu chuyển vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng và phong phú tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tùy theo lịch sử hình thành của hệ thống NH, hiện nay có nhiều định nghĩa về NHTM: Theo ngân hàng thế giới: Ngân hàng là tổ chức nhận tài chính tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi có kỳ han, tiền gửi ngắn hạn).
Dưới tiêu đề các NH gồm có: Ngân hàng thương mại, chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung dài hạn; Ngân hàng đầu tư, hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng nhà ở, cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại NH khác nữa. Tại một số nước còn có NH đa năng, kết hợp hoạt động ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm. Tại Hoa Kỳ: NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế. Tại Pháp: Theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, NHTM là những xí nghiệp hay là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công 9 chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính.
Tại Việt Nam: Theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm 2010, Ngân hàng thương mại là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các loại hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau, và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động huy động vốn Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Trong hoạt động này NHTM được sử dụng các công cụ và biện pháp mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: - Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu… theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho KH theo đúng thời hạn thỏa thuận.
- Vay vốn từ các TCTD khác và từ NHTW. - Huy động vốn khác.2 Hoạt động cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một tài sản theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh toán. 10 - Dịch vụ thanh toán trong nước cho KH. - Dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý.
- Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ các tổ chức và cá nhân. - Phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử. - Các sản phẩm khác như: tư vấn tài chính, giữ hộ tài sản, thanh toán séc… 1.4 Các hoạt động kinh doanh khác của NHTM - Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác từng nguồn vốn tự có để đa dạng hóa danh mục đầu tư, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quyđịnh của NHNN.
- Hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động NH, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm. - Hoạt động dịch vụ chứng khoán. - Các hoạt động khác như: bảo quản vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê két, dịch vụ cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.3 Phân loại ngân hàng thƣơng mại - Dựa vào hình thức sở hữu có thể gồm các loại sau: Ngân hàng sở hữu tư nhân, Ngân hàng sở hữu của các cổ đông (Ngân hàng cổ phần), Ngân hàng sở hữu nhà nước, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và Ngân hàng liên doanh.
- Dựa theo tính chất hoạt động gồm: + Ngân hàng chuyên doanh và đa năng Ngân hàng hoạt động chuyên doanh: tập trung cung cấp một số dich vụ ngân hàng như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay (không bảo lãnh hoặc cho thuê) Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng. + Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ 11 Ngân hàng bán buôn: là NH chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho NH, các công ty tài chính, cho nhà nước, cho doanh nghiệp lớn… Ngân hàng bán buôn thường là những NH hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng. Ngân hàng bán lẻ: Thường cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân các khoản tín dụng nhỏ. NH loại này chú trọng đến việc đa dạng hóa các sản phẩm.
Số lượng sản phẩm rất nhiều, rất lớn để đáp ứng các nhu cầu của nhiều KH. Tuy giá trị từng sản phẩm không lớn nhưng bù lại là một lực lượng KH rất lớn. - Chia theo cơ cấu tổ chức: Ngân hàng đơn nhất: Là NH không có chi nhánh, các dịch vụ chỉ do một cơ sở NH cung cấp. Ngân hàng có chi nhánh: Là NH tương đối lớn, cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua nhiều đơn vị NH.2 Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Theo Trương Quang Thông (2010), “Dịch vụ là bất kỳ biện pháp hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, và chủ yếu là không thể sờ thấy được, và không dẫn đến một sự chiếm hữu một cái gì đó.
Việc thực hiện dịch vụ có thể có và có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”.J Bitner (2000) thì “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho KH nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.” Thị trường bán lẻ là một cái nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng. Thuật ngữ “Ngân hàng bán lẻ” (NHBL) trong tiếng anh chính là Retail Banking – nghĩa là cung cấp các sản phẩm dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ. Tổ chức Thương mại thế giới cho rằng NHBL là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của NH để thực hiện các dịch vụ như: 12 gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khách hàng đi kèm. Theo các chuyên gia kinh tế của học viện nghiên cứu Châu Á – AIT cho rằng NHBL là NH cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh.
KH có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.