Phát triển nguồn lực thông tin điện tử tại Thư viện ĐH Giao thông Vận tải

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn lực thông tin điện tử tại thư viện Đại học GTVT, nâng cao chất lượng đào tạo.

Chuyên ngành

Khoa Học Thư Viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2012

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò chiến lược trong phát triển thông tin điện tử thư viện ĐH GTVT

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, việc phát triển thông tin điện tử trở thành một hướng đi tất yếu đối với các thư viện đại học. Tại trường Đại học Giao thông Vận tải (ĐH GTVT), Trung tâm Thông tin - Thư viện đóng vai trò là trái tim học thuật, cung cấp nguồn tri thức quan trọng cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Sự chuyển đổi từ mô hình thư viện truyền thống sang thư viện số ĐH GTVT không chỉ là một xu hướng mà còn là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Phương pháp này đề cao khả năng tự học và tự nghiên cứu của sinh viên, đòi hỏi một nguồn tài liệu phong phú, dễ dàng truy cập và luôn được cập nhật. Nguồn tin điện tử UTC chính là chìa khóa để giải quyết bài toán này. Chúng phá vỡ mọi giới hạn về không gian và thời gian, cho phép giảng viên và sinh viên có thể truy cập từ xa thư viện UTC mọi lúc, mọi nơi. Việc hiện đại hóa thư viện đại học thông qua các cơ sở dữ liệu trực tuyếntài liệu điện tử chuyên ngành GTVT không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra một môi trường học tập năng động, sáng tạo. Đây là nền tảng vững chắc để trường ĐH GTVT khẳng định vị thế là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1.1. Bối cảnh chuyển đổi số thư viện trong giáo dục đại học

Giáo dục đại học Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới mạnh mẽ, với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Chuyển đổi số thư viện là một bộ phận không thể tách rời của quá trình này. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo ra các loại hình tài liệu mới như sách điện tử, tạp chí điện tử, và các cơ sở dữ liệu khoa học. Những tài liệu này có ưu điểm vượt trội: mật độ thông tin cao, khả năng cập nhật nhanh chóng, và cho phép nhiều người cùng truy cập một lúc. Đối với trường ĐH GTVT, việc áp dụng học chế tín chỉ càng làm nổi bật tầm quan trọng của việc xây dựng một thư viện số mạnh mẽ, nơi sinh viên có thể chủ động tìm kiếm và khai thác tri thức.

1.2. Nhu cầu thông tin của người dùng tại Đại học Giao thông Vận tải

Người dùng tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện ĐH GTVT rất đa dạng, bao gồm cán bộ quản lý, giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên. Theo khảo sát, nhóm sinh viên chiếm tỷ lệ đông đảo nhất (93,15%). Nhu cầu tin của họ tập trung vào giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành GTVT, tài liệu phục vụ nghiên cứu khoa học và đồ án tốt nghiệp. Trong khi đó, giảng viên và nghiên cứu sinh lại cần những thông tin chuyên sâu, các công trình nghiên cứu mới nhất, các bài báo trên tạp chí khoa học quốc tế. Việc phát triển thông tin điện tử thư viện ĐH GTVT phải hướng tới việc thỏa mãn đồng thời các nhu cầu đa dạng này, cung cấp các dịch vụ thông tin thư viện hiện đại và cá nhân hóa trải nghiệm người dùng.

II. Phân tích thực trạng và thách thức phát triển thông tin điện tử ĐH GTVT

Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt từ khi tiếp nhận dự án Giáo dục đại học mức C, công tác phát triển thông tin điện tử tại thư viện ĐH GTVT vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Thực trạng cho thấy kho tài liệu điện tử còn hạn chế, chưa tương xứng với quy mô và nhu cầu đào tạo của nhà trường. Theo luận văn của Đinh Thị Yến (2012), nguồn tài liệu nội sinh như luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học dù đã được thu thập nhưng tỷ lệ đưa lên cơ sở dữ liệu trực tuyến để khai thác toàn văn còn thấp. Việc số hóa tài liệu thư viện truyền thống, đặc biệt là các giáo trình và sách tham khảo cũ, gặp nhiều khó khăn về kinh phí, nhân lực và vấn đề bản quyền. Hạ tầng công nghệ thông tin, mặc dù được đầu tư với 17 máy chủ và 140 máy trạm, đôi khi vẫn gặp tình trạng nghẽn đường truyền, ảnh hưởng đến trải nghiệm truy cập từ xa thư viện UTC. Thêm vào đó, việc quảng bá và hướng dẫn khai thác tài nguyên số hiệu quả cho người dùng chưa được thực hiện một cách có hệ thống. Điều này dẫn đến tình trạng các cơ sở dữ liệu ngoại nhập đắt tiền như Knovel hay Mc Graw-Hill chưa được tận dụng tối đa, gây lãng phí nguồn lực đầu tư. Đây là những rào cản lớn cần có một chiến lược phát triển thư viện số toàn diện để khắc phục.

2.1. Hạn chế về nguồn tài liệu điện tử nội sinh và ngoại nhập

Nguồn lực thông tin điện tử hiện có của Trung tâm còn khá khiêm tốn. Tính đến năm 2012, Trung tâm đã thu nhận được 2.115 luận văn và 43 luận án, nhưng chỉ một phần nhỏ được đưa vào khai thác toàn văn trên phần mềm thư viện số DLIB. Các tài liệu quý giá như đồ án tốt nghiệp của sinh viên vẫn chưa được thu thập. Đối với nguồn ngoại nhập, dù đã mua các cơ sở dữ liệu trực tuyến giá trị, rào cản ngôn ngữ (tiếng Anh) khiến phần lớn sinh viên gặp khó khăn trong việc tiếp cận và khai thác tài nguyên số hiệu quả.

2.2. Khó khăn trong công tác số hóa tài liệu thư viện truyền thống

Quá trình số hóa tài liệu thư viện là một nhiệm vụ phức tạp và tốn kém. Trung tâm đang lưu giữ một khối lượng lớn tài liệu in, trong đó có nhiều sách tham khảo xuất bản trước năm 1990 đã trở nên lạc hậu. Việc chuyển đổi các tài liệu này sang định dạng số đòi hỏi nguồn kinh phí lớn cho thiết bị quét chuyên dụng, phần mềm và nhân lực xử lý. Vấn đề bản quyền cũng là một rào cản pháp lý lớn, đặc biệt đối với các giáo trình và sách chuyên khảo. Nếu không có một kế hoạch và chính sách cụ thể, việc mở rộng kho tài liệu số từ nguồn tài liệu truyền thống sẽ rất chậm chạp.

III. Phương pháp xây dựng nguồn tin điện tử thư viện ĐH GTVT hiệu quả

Để vượt qua các thách thức, việc xây dựng một chiến lược phát triển thư viện số bài bản là yêu cầu tiên quyết. Giải pháp cốt lõi nằm ở việc đa dạng hóa các hình thức phát triển nguồn lực thông tin. Trước hết, cần xây dựng một chính sách bổ sung rõ ràng, ưu tiên các tài liệu điện tử chuyên ngành GTVT. Thay vì chỉ phụ thuộc vào nguồn mua, thư viện cần đẩy mạnh các kênh trao đổi với thư viện các trường đại học khối kỹ thuật, tìm kiếm nguồn tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước. Đặc biệt, việc tập trung vào số hóa tài liệu thư viện nội sinh là hướng đi chiến lược. Các luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình do chính giảng viên nhà trường biên soạn là nguồn tài sản trí tuệ vô giá. Cần có cơ chế khuyến khích và quy định bắt buộc về việc nộp bản mềm kèm theo bản in để xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến toàn văn. Bên cạnh đó, việc tích hợp Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) vào hệ thống sẽ làm phong phú thêm kho học liệu mà không tốn nhiều chi phí. Đây là những phương pháp then chốt để phát triển thông tin điện tử thư viện ĐH GTVT một cách bền vững và hiệu quả.

3.1. Xây dựng chính sách bổ sung nguồn lực thông tin điện tử dài hạn

Một chính sách bổ sung cần được văn bản hóa, xác định rõ các tiêu chí lựa chọn, ưu tiên nguồn tin, và phân bổ ngân sách hợp lý. Chính sách này phải linh hoạt để thích ứng với sự thay đổi của chương trình đào tạo và xu hướng công nghệ. Cần ưu tiên ngân sách cho việc mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu trực tuyến uy tín và các tài liệu điện tử chuyên ngành GTVT. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác, trao đổi tài liệu số với các thư viện khác để chia sẻ nguồn lực và tiết kiệm chi phí.

3.2. Tập trung số hóa tài liệu nội sinh chuyên ngành Giao thông Vận tải

Nguồn tài liệu nội sinh mang đậm dấu ấn và thế mạnh của trường. Cần xây dựng một lộ trình số hóa tài liệu thư viện cụ thể, bắt đầu với các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các đề tài nghiên cứu khoa học có giá trị cao. Việc ban hành quy định về nộp sản phẩm khoa học dưới dạng điện tử là cần thiết. Điều này không chỉ giúp xây dựng thư viện số ĐH GTVT mà còn góp phần quảng bá các thành tựu nghiên cứu của trường ra cộng đồng học thuật, nâng cao uy tín và thương hiệu của nhà trường.

IV. Hướng dẫn hiện đại hóa hạ tầng và quản lý thư viện số ĐH GTVT

Nguồn tin phong phú cần một nền tảng công nghệ vững chắc để quản lý và khai thác. Do đó, việc nâng cấp hạ tầng thông tin thư viện là nhiệm vụ song hành cùng với phát triển nội dung. Hệ thống máy chủ, mạng máy tính và đường truyền Internet cần được thường xuyên bảo trì, nâng cấp để đảm bảo hoạt động ổn định, thông suốt, đặc biệt là khả năng truy cập từ xa thư viện UTC. Cần tối ưu hóa hệ thống quản lý thư viện tích hợp (ILS) như phần mềm ILIB đang sử dụng để quản lý hiệu quả cả tài liệu truyền thống và tài liệu số. Bước tiếp theo là xây dựng một cổng thông tin thư viện ĐH Giao thông Vận tải duy nhất. Cổng thông tin này hoạt động như một “single sign-on”, cho phép người dùng chỉ cần đăng nhập một lần là có thể truy cập tất cả các nguồn tài nguyên, từ OPAC, CSDL toàn văn nội sinh đến các CSDL ngoại nhập. Giao diện cổng thông tin cần thân thiện, dễ sử dụng, tích hợp công cụ tìm kiếm liên thông (discovery tool) mạnh mẽ. Việc đầu tư vào công nghệ và quy trình quản lý hiện đại sẽ mang lại những dịch vụ thông tin thư viện hiện đại, nâng cao trải nghiệm người dùng và tối đa hóa giá trị của nguồn tài nguyên số.

4.1. Nâng cấp hạ tầng và hệ thống quản lý thư viện tích hợp

Việc nâng cấp hạ tầng thông tin thư viện bao gồm việc tăng băng thông Internet, trang bị thêm máy chủ có cấu hình mạnh để lưu trữ dữ liệu số ngày càng lớn. Đồng thời, cần nghiên cứu các tính năng mới của hệ thống quản lý thư viện tích hợp ILIB và DLIB để khai thác triệt để, hoặc xem xét nâng cấp lên các phiên bản mới hơn, hỗ trợ tốt hơn cho việc quản lý tài liệu điện tử, quản lý bản quyền số (DRM) và cung cấp các thống kê sử dụng chi tiết.

4.2. Xây dựng Cổng thông tin thư viện ĐH Giao thông Vận tải thống nhất

Một cổng thông tin thư viện ĐH Giao thông Vận tải hiện đại sẽ là bộ mặt của thư viện số. Nó không chỉ là nơi để tra cứu tài liệu mà còn là kênh cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng như: hướng dẫn trích dẫn, kiểm tra đạo văn, đặt phòng học nhóm, và hỗ trợ trực tuyến từ các thủ thư. Cổng thông tin phải được thiết kế tương thích với các thiết bị di động, cho phép người dùng tiếp cận thư viện một cách liền mạch trên mọi nền tảng.

4.3. Đào tạo người dùng tin và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ

Công nghệ và tài nguyên sẽ trở nên vô ích nếu người dùng không biết cách sử dụng. Thư viện cần tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo thường xuyên để hướng dẫn sinh viên và giảng viên cách khai thác tài nguyên số hiệu quả. Nội dung đào tạo bao gồm kỹ năng tìm kiếm thông tin nâng cao, sử dụng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, và các công cụ quản lý tài liệu tham khảo. Song song đó, đội ngũ cán bộ thư viện cũng cần được bồi dưỡng, nâng cao trình độ về công nghệ thông tin, nghiệp vụ thư viện hiện đại để trở thành những chuyên gia tư vấn thông tin tin cậy.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI 1.1 NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐIỆN TỬ 1. Một số khái niệm Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin, với sự xuất hiện một loại hình tài liệu mới, khác hẳn với các loại tài liệu trên các vật mang tin thông thường, đó là tài liệu điện tử. Xuất phát từ loại tài liệu mới này, trên các bài viết trên các báo, tạp chí và trên các diễn đàn về thông tin thư viện, có rất nhiều khái niệm mới được dùng trong thời gian gần đây như tài liệu điện tử, tài liệu số, nguồn học liệu điện tử, nguồn lực thông tin số hóa, nguồn thông tin điện tử,… Hiện nay, trên các tạp chí chyên ngành các khái niệm này được dùng chưa hoàn toàn thống nhất, vì vậy, trước hết xin được làm rõ các khái niệm này. - Nguồn lực thông tin điện tử (Electronic Information Resouces): hay nguồn tin điện tử là thuật ngữ được dùng để chỉ mọi loại thông tin có tổ chức, được lưu trữ trên các vật mang tin điện tử như băng từ, cứng, đĩa CD-ROM, DVD.

Hay nói khác đi, nguồn lực thông tin điện tử là mọi dạng nguồn tin có tổ chức được xử lý, bao gói, lưu trữ và truy cập trên máy tính hay trên mạng máy tính. Sự ra đời của tài liệu điện tử là kết quả tất yếu của bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông. - Nguồn lực thông tin số hóa (Digital Information Resouces): thuật ngữ này có thể xem như đồng nghĩa với thuật ngữ nguồn lực thông tin điện tử nêu trên, có nghĩa gồm tất cả những nguồn thông tin được tạo lập dưới dạng số 12 hoặc sau khi được biến đổi sang thông tin số (các bit thông tin dữ liệu) được lưu trữ trên máy tính hoặc được truyền trên đường truyền Internet. - Nguồn học liệu điện tử (Electronic learing resources): Thuật ngữ “nguồn học liệu điện tử” được mở rộng từ khái niệm “nguồn học liệu”.

Khái niệm nguồn học liệu được hiểu là tất cả các loại nguồn thông tin được sử dụng để phục vụ trực tiếp quá trình đào taọ và nghiên cứu trực tiếp phục vụ đào tạo. Với cách hiểu đó, nguồn học liệu điện tử có thể được xem là tất cả các loại nguồn thông tin dưới dạng điện tử (electronic format) được sử dụng để phục vụ trực tiếp quá trình đào taọ và nghiên cứu khoa học trực tiếp phục vụ đào tạo. Như vậy nguồn học liệu điện tử bao gồm các nhóm chính sau: + Sách giáo khoa điện tử (giáo trình điện tử) là tài liệu giáo khoa, giáo trinh, mà trong đó kiến thức được trình bày dưới nhiều dạng khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, được lưu trữ trên các vật mang tin điện tử. Đặc điểm của sách giáo khoa điện tử là kiến thức có thể được khai thác theo nhiều chiều, như theo mục lục, theo từ khóa, theo các đường siêu liên kết (hyperlink), giúp người đọc có thể đi ngay tới những vấn đề mình cần, thuận tiện cho người học tra cứu và tìm kiếm nhanh thông tin.

Hiện nay, sách giáo khoa điện tử còn cho phép kết nối, cập nhật thêm thông tin mới ngoài văn bản, từ các trang web trên mạng internet hoặc các tài liệu có trong kho của thư viện thông qua các đường siêu liên kết có sẵn trong sách giáo khoa điện tử. + Giáo án điện tử: là bản thiết kế toàn bộ kế hoạch giảng dạy của giáo viên để lên lớp, toàn bộ hoạt động đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động nghiên cứu, thiết kế bài giảng được thể hiện trên vật mang tin điện tử trước khi tiến hành dạy. 13 + Tư liệu phục vụ việc học tập dưới dạng điện tử: tài liệu giải đáp, hướng dẫn học, đánh giá kết quả học,… (các loại tư liệu này có thể tồn tại dưới dạng tệp dữ liệu, dưới dạng phần mềm, Website…) được các tổ chức nghiên cứu đào tạo sử dụng khi tiến hành hoạt động đào tạo.

Đặc trưng của nguồn lực thông tin điện tử. - Nguồn lực thông tin điện tử đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung. Hiện nay có rất nhiều loại hình tài liệu điện tử khác nhau cho phép lưu trữ thông tin ở rất nhiều dạng khác nhau như sách điện tử, bài giảng điện tử, báo điện tử, tạp chí điện tử… - Tài liệu điện tử có mật độ thông tin cao, khả năng lưu trữ lớn. Nếu như trước đây để tổ chức và khai thác nguồn tài liệu truyền thống, người ta phải sử dụng không gian lưu trữ lớn để lưu trữ tài liệu, thì ngày nay do sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ nén và lưu trữ thông tin trên các vật mang tin với tỉ suất nén rất cao.

Do đó, mật độ thông tin ghi trên các vật mang tin điện tử cũng rất lớn. Ta có thể thấy rất rõ điều này qua ví dụ so sánh việc lưu trữ trên vật mang tin truyền thống là giấy in và vật mang tin hiện đại là CD-ROM của tạp chí Chemical Abstract của hội Hóa học Hoa kỳ. Mỗi năm tạp chí này xuất bản trên 100 tập (gồm 54 tập tóm tắt và khoảng 50 tập index các loại), mỗi tập khoảng 2000 trang in, tổng cộng là trên 200.000 trang in, xếp gần kín 2 mét giá sách, nhưng nếu xuất bản dưới dạng điện tử thì mỗi năm tạp chí này chỉ cần lưu trữ trên một vài đĩa CD-ROM. - Thông tin trên tài liệu điện tử luôn mới nhờ khả năng cập nhật nhanh, thường xuyên, kịp thời với mức chi phí hợp lý, không quá phức tạp, không mất nhiều thời gian, công sức.

Ngày nay với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin thì tài liệu được được cập nhật theo từng giờ, từng phút, thậm chí có những thông tin còn được tự động cập nhật ngay tức thì như thông tin trên website, hay trên blog. 14 - Thông tin có thể lưu trữ ở nhiều dạng khác nhau: như văn bản, đồ thị, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động [15, tr. Điều này giúp cho thông tin sinh động hơn, hấp dẫn hơn, đồng thời làm cho người dùng tin (NDT) dễ thu nhận thông tin hơn. - Có khả năng truy cập theo nhiều dấu hiệu khác nhau như nhan đề, tác giả, năm xuất bản, từ khóa [15, tr.

Mặc dù hiện nay tại các thư viện, chỉ sử dụng khoảng 20 trường trong tổng số hơn 200 trường của MARC21 (không kể trường con) đang được sử dụng trong quá trình biên mục tài liệu; con số đó đã đủ để NDT truy cập theo rất nhiều dấu hiệu liên quan đến tài liệu. Điều này cho phép người dùng tin có thể tìm nhanh và chính xác đúng tài liệu mình muốn chỉ trong một phép tìm. - Có khả năng truy cập từ xa, không giới hạn về không gian, thời gian [15, tr. Theo nguyên tắc 24/7 (nguồn tin sẵn có 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần), NDT có thể truy cập tài liệu ngay tại nhà mình, từ nơi làm việc, bất kể lúc nào họ cần mà không cần phải đến tận kho lưu trữ nguồn tin.

- Cùng một thời điểm có thể nhiều người cùng truy cập tới một nguồn tin mà không phải xếp hàng chờ đợi. Điều này cho phép các cơ quan thông tin - thư viện có thể tổ chức phục vụ số lượng người dùng tin nhiều hơn so với phục vụ tài liệu truyền thống. - Tạo khả năng cho người dùng tin có thể tiếp cận với tác giả hoặc người tổ chức nguồn tin thông qua địa chỉ email của họ, cũng có thể thông qua đường siêu liên kết (hyperlink) để truy cập đến các tài liệu có cùng tác giả, hoặc thông tin có cùng chủ đề của nhiều tác giả. Với khả năng đó mỗi thông tin trong tài liệu không chỉ là thông tin thông thường mà thông tin ẩn chứa những thông tin tiềm năng khác.

- Thuận tiện trong bảo quản tài liệu gốc: 15 Việc số hóa các tài liệu mở ra một hướng đi mới trong việc lưu trữ các tài liệu gốc, đặc biệt đối với tài liệu quý hiếm, có giá trị hay giá thành cao. Khi được số hóa, việc lưu trữ vật lý được chuyển sang lưu trữ trên hệ thống máy tính với cơ chế sao lưu, bảo mật, bảo vệ an toàn lâu dài cho tài liệu, tránh được hư hỏng khi mang ra phục vụ và không hạn chế đối tượng phục vụ. Nghĩa là thông tin chứa trong đó không bị giảm đi hoặc bị “chết”, vì thông tin chỉ có giá trị khi được đưa vào khai thác và càng sử dụng nhiều thì giá trị của thông tin càng được tăng lên. Khi số hóa, từ file tài liệu gốc, định dạng của tài liệu có thể được thay đổi theo nhiều kiểu khác nhau.

Ví dụ một tài liệu dạng ấn phẩm sau khi được số hóa xong ta có thể chuyển đổi sang nhiều định dạng khác nhau với tập tin có phẩn mở rộng dạng .pdf hoặc nhiều dạng khác nữa. - Khả năng kiểm soát đối với tài liệu điện tử tương đối cao, và thông tin được kiểm soát ở nhiều cấp độ khác nhau trong hệ thống. Việc lưu trữ, quản lý, truy cập và khai thác nguồn tin trên máy tính hay trong mạng máy tính một mặt thu hẹp tối đa diện tích kho, mặt khác giúp kiểm soát chặt chẽ quá trình truy cập tài liệu điện tử của NDT. Đồng thời các kênh thông tin được tạo lập giữa các nhóm NDT cũng góp phần làm phong phú thêm nguồn tin và thông qua kênh phản hồi này để hiểu thêm về giá trị của thông tin.

Bên cạnh những ưu điểm nổi trội trên đây, tài liệu điện tử cũng có những hạn chế: - Tính ổn định không cao, độ bền vững không đồng nhất: có thông tin tồn tại lâu dài như các thông tin lưu trên đĩa CD-ROM, nhưng có những thông tin có những vòng đời rất ngắn như các bản tin, các bài báo trên mạng Internet. - Dễ bị vi phạm bản quyền, do bị sao chép, sửa đổi, thậm chí bị hủy hoại do những lỗi vi phạm cố tình hay vô ý của NDT, cá biệt có những thông 16 tin bị hủy hoại hoàn toàn gây nhiễu tin, tin tạp, tin xấu hoặc hacker đột nhập vào để chỉnh sửa, xóa bỏ thông tin, hoặc phát tán vi rút.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ