Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Cơ sở lí luận - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và đề nghị - Chương 6: Tài liệu tham khảo PHẠM ĐOÀN AN TÂM 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 1. Mục tiêu của thực tập Đại học là nơi tạo nên những nền tảng kiến thức cơ bản cho sinh viên về lĩnh vực mà chúng tôi đam mê. Trải qua 4 năm học tập với những kiến thức đã đạt được là một trải nghiệm đầy ý nghĩa và khó khăn đối với tôi. Tuy nhiên, khó khăn không dừng lại ở đó.
Nếu nói cuộc sống là một hành trình dài để đi thì những kiến thức mà tôi có được chỉ là hành trang để tôi có thể vào đời, còn kinh nghiệm mới là điều có thể giúp tôi vững bước đi. Để tìm kiếm những kinh nghiệm đó, tôi cần phải tiếp cận với thực tế, đem những hiểu biết mình có được ứng dụng vào môi trường thực tiễn để ngày càng hoàn thiện bản thân hơn. Thực tập là một trong những cơ hội mà nhà trường đã tạo ra cho tôi để có thể dễ dàng đặt chân vào môi trường thực tế, không còn sự nâng đỡ của thầy cô mà phải tự bước đi bằng sự nỗ lực của mình. Đó cũng là cơ hội để tôi phát huy bản thân trong môi trường thực tế, hiểu được môi trường đi làm là như thế nào để sau này khi ra trường, tôi sẽ không còn bỡ ngỡ với môi trường công sở.
Trải qua đợi thực tập 3 tháng cuối cùng trong đời sinh viên này, tôi hi vọng mình có thể trưởng thành hơn, tự tin hơn vào bản thân, học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm cả ở lĩnh vực chuyên môn lẫn phong cách sống và làm việc. Hơn hết, ngoài những ưu điểm được phát huy, tôi có thể nhận ra nhược điểm mà bản thân đang mắc phải để tự sửa đổi và dần hoàn thiện bản thân mình. Để đạt được những yêu cầu chung trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sẽ đi vào chi tiết từng phần giúp làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của mình. Trước tiên là nghiên cứu nội dung của lý thuyết thị trường và các vấn đề liên quan đến thị trường trong chương 2 sau đây, từ đó định hình hướng đi cho tôi trong các phần sau.
PHẠM ĐOÀN AN TÂM 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Một số vấn đề về văn phòng đại diện tại Việt Nam 2. Khái niệm Theo Luật doanh nghiệp tại khoản 1, điều 37 quy định rằng “Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó” (“Văn phòng đại diện,” 2015). Có nghĩa là, văn phòng đại diện không được phép kinh doanh trực tiếp hay kí kết bất kì hợp đồng kinh doanh nào dưới con dấu của văn phòng đại diện.
Thay vào đó, văn phòng đại diện được phép kí kết hợp đồng theo sự ủy quyền của Doanh nghiệp đã mở văn phòng đại diện tại Việt Nam và phải kí kết hợp đồng kinh doanh với con dấu của Doanh nghiệp đó. Nội dung hoạt động, quyền và nghĩa vụ của văn phòng đại diện Nội dung hoạt động: Theo Điều 16, chương III số 72/2006 NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam: Nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện bao gồm: Thực hiện chức năng văn phòng liên lạc. Xúc tiến xây dựng các dự án hợp tác của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. PHẠM ĐOÀN AN TÂM 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Nghiên cứu thị trường để thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thương mại của thương nhân mà mình đại diện.
Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với các đối tác Việt Nam hoặc liên quan đến thị trường Việt Nam của thương nhân nước ngoài mà mình đại diện. Các hoạt động khác mà pháp luật Việt Nam cho phép. Quyền và nghĩa vụ của văn phòng đại diện: Theo Điều 20, chương III số 72/2006 NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam: Văn phòng đại diện, người đứng đầu Văn phòng đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Thương mại và các quy định sau: o Văn phòng đại diện không được thực hiện chức năng làm đại diện cho thương nhân khác, không được cho thuê lại trụ sở Văn phòng đại diện. o Người đứng đầu Văn phòng đại diện của một thương nhân nước ngoài không được kiêm nhiệm các chức vụ sau: Người đứng đầu Chi nhánh tại Việt Nam Người đại diện theo pháp luật của thương nhân nước ngoài để ký kết hợp đồng mà không cần uỷ quyền bằng văn bản của thương nhân nước ngoài PHẠM ĐOÀN AN TÂM 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam Trong trường hợp thương nhân nước ngoài ủy quyền cho người đứng đầu Văn phòng đại diện giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết thì phải thực hiện việc ủy quyền bằng văn bản cho từng lần giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết.
Thị trường: 2. Khái niệm và phân loại thị trường Các khái niệm thị trường : Theo quan điểm Marketing, thị trường là tập hợp tất cả những người mua thật sự hay người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm. Khái niệm này cho phép các doanh nghiệp có thể dự đoán được dung lượng thị trường một cách chính xác. Tuy nhiên, theo tài liệu của Anh, N.
(2013), trong thực tế, thị trường thực chất lại là một tổ hợp rất nhiều các yếu tố đa dạng và phức tạp. Theo Hội quản trị Hoa Kỳ: “Thị trường là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện, trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người bán sang người mua”. Nhiều quan niệm khác lại cho rằng “thị trường là lĩnh vực trao đổi mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để PHẠM ĐOÀN AN TÂM 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP xác định giá cả hàng hoá dịch vụ”. Vì vậy, khái niệm thị trường còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận bao gồm cả không gian, thời gian, nhận thức của con người sống trong bối cảnh đó; đến ý kiến của các chuyên gia, nhà kinh tế học mới có thể đưa ra cái nhìn một cách chính xác nhất.
o Dưới góc độ kinh tế: Dựa trên tài liệu của Quý, H. (2013) đã đề cập đến vấn đề theo quan niệm cổ đại, thị trường chỉ được coi như là 1 “khu chợ”, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa với nhau giữa người với người, theo kiểu “tiền trao, cháo múc”. Tuy nhiên, trải qua quá trình tiến bộ và hoàn thiện tư duy của loài người cùng với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất khiến cho quá trình lưu thông hàng hóa trở nên phức tạp hơn. Cho đến lúc này, quan niệm cổ đại ban đầu về thị trường đã không còn bao quát hết được.
Định nghĩa hiện đại xuất hiện, thay thế cho quan niệm cổ đại, đưa phạm trù thị trường đến một kiểu hình phong phú và đa dạng hơn. Theo định nghĩa này, thị trường được xem là tổng thể nhiều mối quan hệ bao gồm lưu thông hàng hóa, tiền tệ và các giao dịch mua bán hàng hóa kể cả sản phẩm hữu hình và dịch vụ trong quá trình tác động qua lại giữa người bán và người mua. Phủ nhận cái nhìn trực quan về thị trường, khái niệm đã được mở rộng về thời gian, không gian cũng như dung lượng hàng hóa. PHẠM ĐOÀN AN TÂM 9 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Cùng với đó, theo nhà Kinh tế học Samuelson, P.: “Thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá”.
Như vậy, thị trường không chỉ bao gồm các mối quan hệ mà còn bao gồm các tiền đề cho các mối quan hệ và hành vi mua bán. o Dưới góc độ doanh nghiệp: Cũng theo Quý, H. (2013) đã chỉ ra rằng đối với các doanh nghiệp, góc độ phân tích thị trường như đã nêu ở trên là việc cần thiết nhưng chưa đủ để doanh nghiệp có thể họa lên một bức tranh chi tiết về thị trường. Từ đó, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc điều hướng các hoạt động kinh doanh sao cho phù hợp, chính xác và mang tính hiệu quả cao.
Vì vậy, khái niệm thị trường được mô tả cụ thể hơn ở góc độ doanh nghiệp ra đời và được xem như là 1 công cụ hữu ích giúp các doanh nghiệp có cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường. Thị trường đầu vào: theo Quang, N. (2007) nêu rằng thị trường đầu vào sử dụng 3 tiêu thức cơ bản, bao gồm: • Tiêu thức sản phẩm: bao gồm thị trường hàng hóa – dịch vụ, thị trường vốn và thị trường lao động. PHẠM ĐOÀN AN TÂM 10 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP • Tiêu thức địa lý: nguồn cung cấp nội địa và nguồn cung cấp quốc tế.
• Tiêu thức người cung cấp: các nhóm hàng hóa hoặc cá nhân người cung cấp loại hàng đó có mối liên quan đến các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu thị trường đầu vào có ý nghĩa cự kì quan trọng đối với sự ổn định và hiệu quả của nguồn cung hàng hóa, khả năng hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ): Cũng theo Quang, N. (2007), liên quan trực tiếp đến mục tiêu của marketing là giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bằng các chiến lược, sách lược công cụ điều khiển tiêu thụ dựa trên việc phân tích đặc điểm và tính chất của thị trường tiêu thụ.
Sử dụng 3 tiêu thức cơ bản sau: • Tiêu thức sản phẩm: Xác định thị trường theo ngành hoặc nhóm hàng hóa kinh doanh. Mức độ khái quát hay cụ thể tùy thuộc vào cách thức nghiên cứu của doanh nghiệp. PHẠM ĐOÀN AN TÂM 11 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thép Kim khí THỊ TRƯỜNG TƯ LIỆU SẢN XUẤT Kim loại màu Hóa chất Ưu điểm: đơn giản, dễ thực hiện và thường được sử dụng. Nhược điểm: không chỉ rõ được đối tượng mua hàng và đặc điểm mua sắm của họ.