CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước. Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lào động quốc tế. Vì vậy, thương mại quốc tế như một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến đến chế độ tư bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nền kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế.
Lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo cho thấy một nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích ngoại thương, nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối. Năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những 8 nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế. Nội dung bao gồm: Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế.
Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thương mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế. Lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể được biểu hiện bằng các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thương mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi quốc gia.
Thương mại toàn cầu tạo cơ hội cho người tiêu dùng và các nước được tiếp xúc với hàng hoá, dịch vụ mà nước họ không có. Hầu như tất cả các loại sản phẩm bạn cần đều được tìm thấy trên thị trường quốc tế: thực phẩm, quần áo, phụ tùng, dầu, đồ trang sức, rượu,vàng, cổ phiếu, tiền tệ và nước. Sự phát triển của thương mại quốc tế cũng làm tiền đề để phát triển các ngành dịch vụ khác như vận tải, du lịch, tư vấn, ngân hàng. Khái niệm về tài trợ thương mại Tài trợ thương mại (TTTM) bao hàm sự chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện tài chính và thay thế về mặt tài chính để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và 9 sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại cũng nhu đảm bảo các quá trình thành liên quan.
Phạm vi tài trợ xuất nhập khẩu bao gồm tài trợ cho xuất khẩu (cả trong giai đoạn sản xuất) và tài trợ cho nhập khẩu trong thời gian từ ngắn hạn đến dài hạn. Tài trợ thuơng mại là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc các đơn vị kinh tế tham gia trong lĩnh vực Thuơng mại quốc tế trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tu, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị truờng thế giới. Nếu xét về mặt hình thức tài trợ thì tài trợ thuơng mại đuợc thực hiện duới hai hình thức: - Tài trợ thuơng mại trực tiếp là tập hợp các biện pháp hoặc hình thức hỗ trợ trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh thuơng mại quốc tế của doanh nghiệp thuờng đuợc thực hiện thông qua việc cho vay ngắn hạn, trung, dài hạn để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, thay đổi dây chuyền công nghệ máy móc thiết bị, hoặc đuợc thực hiện qua hình thức cung ứng dịch vụ tiền tệ, tín dụng ngân hàng. - Tài trợ thuơng mại quốc tế gián tiếp là tập hợp các biện pháp hình thức hữu hiệu nhằm tạo ra môi truờng kinh doanh thuơng mại quốc tế thuận lợi cho các doanh nghiệp nhu: chính sách thuế xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái, môi truờng pháp lý ổn định, phù hợp với thực tiễn thuơng mại quốc tế, chính sách lãi suất.
Căn cứ vào nguời cung ứng tài trợ thì tài trợ thuơng mại có thể chia thành: - Tài trợ thuơng mại quốc tế của nhà nuớc: đặc trung của hình thức này là tài trợ gián tiếp thông qua Ngân hàng trung uơng, các tổ chức tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng, các cơ quan của chính phủ bằng các biện pháp thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ bình ổn giá, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ xúc tiến phát triển, duới các hình thức bảo lãnh, tái chiết khấu, và thông qua chính sách tài chính - tiền tệ ở tầm vĩ mô. 10 - Tài trợ thương mại quốc tế của các doanh nghiệp: với các công cụ sử dụng thường là tín dụng thương mại như hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ, ứng tiền trước tiền bán, v.v Ngày nay, với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng trong thương mại quốc tế ở khu vực và trên thế giới của các NHTM khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế với tư cách là nhà tài trợ, cung ứng các dịch vụ tài trợ thương mại đa dạng, linh hoạt, an toàn, đảm bảo tính cạnh tranh công bằng cho các hoạt động thương mại quốc tế. Với tính chuyên nghiệp cao, tiềm lực tài chính mạnh và mạng lưới cơ sở rộng khắp, các Ngân hàng thương mại đóng vai trò ngày càng quan trọng khi là nhà tài trợ chủ yếu cho hoạt động thương mại quốc tế. ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI TTTM thường gắn với việc trao đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác.
Đồng tiền nội địa với chức năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán trong phạm vi một quốc gia sẽ không vượt ra khỏi giới hạn của nó được nếu như hai bên liên quan trong hợp đồng không có sự thoả thuận với nhau. Bởi vì khi ký kết hợp đồng thương mại, tín dụng. các bên phải đàm phán thống nhất đồng tiền nào được sử dụng để thanh toán giao dịch, nó có thể là đồng tiền của nước người mua, tiền của nước người bán hoặc một đồng tiền của một nước nào đó được chọn để giao dịch thanh toán. Các đồng tiền được sử dụng trong TTTM thường là các loại ngoại tệ mạnh có khả năng tự do chuyển đổi như USD, EUR, GBP, JPY.
TTTM chủ yếu là thanh toán qua chứng từ, tách rời với sự di chuyển của hàng hoá từ nước người bán đến nước người mua. TTTM có quan hệ trực tiếp đến cả bên mua lẫn bên bán. Nếu công tác TTTM được làm tốt sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động ngoại thương. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế và thương mại quốc tế ngày càng phát triển thì TTTM đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các Ngân hàng thương mại.
Hoạt động TTTM của Ngân hàng 11 thương mại là một mắt xích không thể thiếu được trong toàn bộ dây truyền thực hiện một hợp đồng ngoại thương. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTTM, Ngân hàng thương mại không chỉ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển giao thương quốc tế mà còn gia tăng giá trị cho Ngân hàng về hình ảnh cũng như lợi nhuận. Vai trò của tài trợ thương mại đối với nền kinh tế TTTM của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK) lưu thông trôi chảy. Thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng hoá XNK theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.
TTTM của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, là động cơ thúc đẩy nền kinh tế. Doanh nghiệp có sự giúp đỡ của ngân hàng có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, hiện đại hoá trang thiết bị làm tăng năng suất lao động. Doanh nghiệp phát triển chính đóng góp kinh tế đất nước phát triển. TTTM là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Hoạt động thanh toán tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, góp phần phát triển kinh tế.