CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển tài chính và đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về phát triển tài chính Theo Mukhtarov và Mikayilov (2023) trong bài nghiên cứu “Could financial development eliminate energy poverty through renewable energy in Poland?” đã viết thị trường tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là khả năng phân bổ vốn trong nền kinh tế.
Thị trường tài chính có khả năng định hướng dòng vốn vào các doanh nghiệp có hàm lượng khoa học và công nghệ cao và các doanh nghiệp sử dụng ít năng lượng hoặc sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch, trong khi thị trường tài chính cũng có khả năng hạn chế dòng vốn đầu tư vào các doanh nghiệp tiêu thụ năng lượng. Theo Christopoulos và Tsionas (2004), Demirguc-Kunt (2006) đã viết rằng phát triển tài chính là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều yếu tố, từ mức độ sâu rộng và hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính cho đến sự ổn định và khả năng tiếp cận của các tổ chức tài chính. Đây là một yếu tố nền tảng thiết yếu cho sự tăng trưởng kinh tế, bởi vì nó không chỉ tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực hiệu quả mà còn kích thích tiết kiệm và đầu tư. Trong bối cảnh khu vực ASEAN, sự phát triển của các hệ thống tài chính ở các quốc gia thành viên đã chứng kiến nhiều bước tiến quan trọng, đi kèm với những thách thức liên quan đến việc củng cố tính ổn định và tăng cường sự bao trùm của các dịch vụ tài chính.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo nghiên cứu của Kevin Honglin Zhang (2001) với tên đề tài “Does foreign direct investment promote economic growth? Evidence from East Asia and Latin America” đã chỉ ra rằng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới nền kinh tế của nước tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tùy theo từng quốc gia, nhưng FDI có xu hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhiều hơn khi các nước đó áp dụng cơ chế thương mại tự do hóa, cải thiện giáo dục và từ đó cải thiện điều kiện vốn nhân lực, khuyến khích FDI định hướng xuất khẩu và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô. 6 Theo nhóm tác giả Lipsey, RE, & Sjöholm, F. (2011) cho thấy rằng các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã mang lại lợi ích cho Indonesia. Thông qua các phân tích kinh nghiệm của các nước Đông Á về thu hút FDI, tác giả nhận thấy việc môi trường kinh doanh tương đối nghèo nàn, thể chế chính phủ kém hiệu quả, trình độ học vấn thấp và cơ sở hạ tầng nghèo nàn dường như là những lý do quan trọng giải thích cho dòng vốn FDI vào Indonesia thấp vào thời điểm đó.
Theo Sunde, Tafirenyika đã viết trong “ Foreign direct investment and economic growth: ADRL and causality analysis for South Africa” rằng sự thịnh vượng kinh tế có liên quan đến dòng chảy lớn của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào một quốc gia. FDI góp phần nâng cao năng suất bằng cách giới thiệu các công nghệ hiện đại, cải tiến quy trình quản lý và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực. Những yếu tố này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả sản xuất mà còn kích thích sự phát triển kinh tế. Hơn nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.
Điều này cũng dẫn đến việc tăng cường nhu cầu tiêu dùng trong nước, nhờ vào thu nhập tăng lên của người dân. Đồng thời, FDI có thể làm tăng khả năng sản xuất của các doanh nghiệp nội địa, giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia. Theo Fayyaz Hussain và Constance Kabibi Kimuli (2012) sử dụng dữ liệu bảng điều khiển vĩ mô của 57 nước có thu nhập thấp và trung bình thấp giai đoạn 2000 - 2009 với ước lượng FE, phát hiện quy mô thị trường là yếu tố quyết định quan trọng nhất của FDI ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hội nhập toàn cầu, sẵn có của lực lượng lao động có tay nghề và phát triển khu vực tài chính cũng thúc đẩy FDI ở các nước đang phát triển.
Yiyang Liu (2012) khẳng định quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng có tác động đến dòng vốn FDI ở Trung Quốc, nhưng mức độ và ý nghĩa thống kê có sự khác biệt giữa các vùng. Một yếu tố không kém phần quan trọng nữa là sự tích lũy (vốn, công nghệ, trình độ nhân lực) cũng được phát hiện là một trong những yếu tố quan trọng thu hút dòng vốn FDI. Chẳng hạn, theo Wheeler và Mody (1992) phát hiện tác động có ý nghĩa cao của sự tích lũy lên dòng FDI của Hoa Kỳ. Tương tự, Loree và Guisinger (1995), Barry 7 và Bradley (1997), Morgan (1998), Fung et al.
(2000) và Kinoshita và Campos (2003) cũng phát hiện tác động dương của sự tích lũy vốn lên FDI. Các công trình nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu trong nước về phát triển tài chính Nguyễn Huỳnh Mai Trâm và Bùi Hoàng Ngọc (2022) đã viết trong “Phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và chất lượng thể chế ở các nước khu vực Đông Nam Á” rằng phát triển tài chính được hiểu là quá trình cải thiện các yếu tố, chính sách và thể chế để tạo ra một hệ thống tài chính hiệu quả, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua việc chuyển hóa tiết kiệm thành đầu tư. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong các nước Đông Nam Á giai đoạn 2000-2017.
Chất lượng thể chế, thể hiện qua các yếu tố như kiểm soát tham nhũng, pháp quyền, hiệu quả chính phủ, đóng vai trò tích cực trong phát triển tài chính. Chu Khánh Lân (2022) viết trong “Ảnh hưởng của phát triển tài chính tới chất lượng môi trường - Kết quả nghiên cứu từ 112 quốc gia” rằng phát triển tài chính có thể tạo ra những tác động tích cực đối với chất lượng môi trường thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Trước hết, khi hệ thống tài chính phát triển, các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn, từ đó khuyến khích họ đầu tư vào các dự án và công nghệ thân thiện với môi trường. Những công ty có quy mô lớn thường tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô để triển khai các giải pháp sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu khí thải độc hại.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính phát triển cũng đóng vai trò là công cụ hỗ trợ chính phủ trong việc thực thi các chính sách và quy định về môi trường. Thông qua các yêu cầu và tiêu chuẩn trong hoạt động cấp tín dụng, các ngân hàng và tổ chức tài chính có thể gián tiếp kiểm soát và định hướng dòng vốn chảy vào các dự án xanh, hạn chế những hoạt động sản xuất gây ô nhiễm. Các công trình nghiên cứu trong nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2018) đã thực hiện một nghiên cứu mang tên “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương”. Tác giả nhấn mạnh việc thúc đẩy doanh nghiệp trong nước bằng FDI vẫn chưa đủ, dẫn đến sự chênh lệch thu nhập giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng.
Hơn nữa, FDI làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ở cấp độ xã hội, giảm thu hút lao động lâu dài và gây ô nhiễm môi trường như ô nhiễm nước 8 và không khí. Những phát hiện này đặt ra những thách thức đáng kể về mặt quản lý và định hình các chính sách phát triển kinh tế xã hội, đồng thời đưa ra các định hướng cụ thể để tăng cường tác động của FDI trong tương lai. Theo nhóm tác giả Ngo Phuc Hanh, Dao Van Hung, Nguyen Thac Hoat và Dao Thi Thu Trang (2017) phân tích số liệu thống kê từ năm 1988 đến năm 2016 về nguồn vốn, số lượng dự án, lĩnh vực đầu tư và quốc gia đầu tư vào Việt Nam cùng 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng thu hút FDI là nguồn lực, cơ sở hạ tầng và các chính sách hỗ trợ khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố chính sách hỗ trợ được cho là có tác động lớn nhất đến nguồn vốn FDI.
Tác giả Trịnh Hoài Nam và Nguyễn Mai Quỳnh Anh đã tiến hành nghiên cứu định lượng điều tra tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1990 - 2013 trong bài nghiên cứu “The Impact of Foreign Direct Investment on Economic Growth: Evidence from Vietnam” viết rằng dòng vốn FDI, đầu tư trong nước, sự mở rộng thương mại và giáo dục có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong khi tỷ lệ lạm phát được cho là có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, tác động của tiêu dùng chính phủ đến tăng trưởng kinh tế là tiêu cực và không có ý nghĩa thống kê. uối cùng, bài nghiên cứu này đề xuất rằng chính phủ Việt Nam nên cải thiện các quy định quản lý hoạt động kinh doanh bằng cách nới lỏng quy trình khởi nghiệp kinh doanh, kiểm soát giá cả, tăng cường chi tiêu công cho giáo dục và đào tạo, tăng cường hợp tác giữa các trung tâm đào tạo và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo tác giả Nguyễn Hoàng Việt cùng cộng sự Thương mại (2020) trong “Tác động của đầu tư trực tiếp của nước ngoài và phát triển bền vững của các địa phương ở Việt Nam” đã phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phát triển bền vững của tỉnh, thành phố (địa phương) tại Việt Nam theo tiếp cận về chi phí giao dịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn của doanh nghiệp FDI và lao động việc làm trong lĩnh vực FDI có tác động tích cực đến sự phát triển bền vững của địa phương.
Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của dự án FDI và quy mô GDP của địa phương lại có ảnh hưởng ngược chiều đến sự phát triển bền vững của địa phương.