CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NH THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về NH thương mại 1. Khái niệm về NH thương mại NHTMlà tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm khác nhau về NH thương mại: Ở Mỹ, NHTMđược hiểu là công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
Đạo luật NH của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “NH thương mại là những doanh nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” [23, tr. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng: “NHTMlà tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” [24, tr. Từ những nhận định trên có thể thấy: “NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về SPDV của xã hội” [26, tr.
Chức năng của NH thương mại Nhìn chung, NHTM có ba chức năng: Chức năng trung gian tài chính, 13 chức năng tạo tiền và chức năng “sản xuất” bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra “sản phẩm” và dịch vụ NH để cung cấp cho nền kinh tế [29, tr.45] Chức năng trung gian tài chính: Theo Nguyễn Đăng Dờn (2005), cho rằng chức năng trung gian tài chính đây là: “Chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM. Chức năng này không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM. Chức năng này của NH được thực hiện thông qua hai chức năng: trung gian tín dụng và trung gian thanh toán” Thực hiện chức năng trung gian tín dụng: Theo Phan Thị Thu Hà, (2004) thì “NHTM đóng vai trò là người trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay, qua đó đã thoả mãn được nhu cầu vốn tạm thời thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì đã đáp ứng được nhu cầu vốn để duy trì liên tục quá trình tái sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Bên cạnh đó, hoạt động này còn làm tăng lợi nhuận cho NH, là cơ sở tồn tại và phát triển của NHTM”. Chức năng tạo tiền: Theo Hồ Ngọc Thủy, (2011) chức năng tạo tiền là “Đây là khả năng có thể nói là riêng có của NHTM. Chức năng này được thực hiện thông qua hoạt động thanh toán và hoạt động tín dụng của NHTM trong mối quan hệ với NHTW. Qua đó, NHTM tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng khối tiền tệ nhằm phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, NHTW có thể điều chỉnh khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM qua công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ của mình, kiểm soát lượng tiền cung ứng sao cho vừa đủ yêu cầu của nền kinh tế để nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh, tạo công việc làm, ổn định giá cả”. 14 Chức năng cung ứng các dịch vụ khác: Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), chức năng cung ứng các dịch vụ là: “Thực hiện chức năng trung gian tài chính và chức năng tạo tiền đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho nền kinh tế- xã hội. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ, các NHTM cần phải đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động NH. Đó chính là việc cung ứng SPDV NH và SPDV mà NH cung cấp cho khách hàng không chỉ thuần tuý để hưởng hoa hồng và dịch vụ phí và là yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho NH mà SPDV NH còn có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM và trước hết là hoạt động tín dụng” [25, tr.
Hoạt động cơ bản của NH thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mai bao gồm các hoạt động cơ bản sau: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Nguyễn Minh Kiều (2007), “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận” [29, tr. Bên cạnh hoạt động tiền gửi con dịch vụ cấp tín dụng. Bên cạnh đó, còn “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ NH, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng [39, tr.
SPDV của NH thương mại 1. Khái niệm Từ hai thập niên lại đây, lĩnh vực dịch vụ tài chính đã thay đổi rất nhiều 15 với sự bùng nổ các dịch vụ NH làm thay đổi cách tiếp cận về các dịch vụ cơ bản của một NHTM. Thuật ngữ “dịch vụ Nir cũng vì vậy cũng được quan niệm theo nhiều cách khác nhau. Theo tác giả cuốn “ Quản trị NH thương mại”, Peter S.Rose cho rằng: “Tất cả hoạt động NH phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ NH.
Và dịch vụ NH gồm có các dịch vụ truyền thống và dịch vụ hiện đại” Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): “Dịch vụ NH là một trong những dịch vụ tài chính. Mà dịch vụ tài chính được định nghĩa đó là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà dịch vụ tài chính” [19, tr.45] Dịch vụ được định nghĩa theo tiêu chuẩn ISO 9004: “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu khách hàng”. Như vậy, “quan niệm về dịch vụ của doanh nghiệp sẽ hình thành nên các mối tương tác qua lại giữa doanh nghiệp và khách hàng. Nếu hiểu khái niệm về dịch vụ ở một góc độ rộng hơn, bao gồm nhiều nhu cầu trừu tượng khác nhau, doanh nghiệp sẽ luôn đem đến cho khách hàng một sản phẩm dịch vụ đúng với mong đợi của họ” [9, tr.
Theo Trần Lê Minh Tú (2007), sản phẩm DVNG bao gồm 3 cấp độ, cụ thể là: Một là, phần sản phẩm cốt lõi: “Là phần đáp ứng được nhu cầu chính của khách hàng, là giá trị cốt yếu mà NH bán cho khách hàng, là giá trị chủ yếu mà khách hàng mong đợi khi sử dụng SPDV của NH. Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà thiết kế SPDV NH là phải xác định được nhu cầu cần thiết của khách hàng đối với từng SPDV để từ đó thiết kế phần cốt lõi của sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu chính yếu nhất của khách hàng” [10, tr.45] Hai là, phần sản phẩm hữu hình: “Là phần cụ thể của SPDV NH, là 16 hình thức biểu hiện bên ngoài của sản phẩm như tên gọi, hình thức, đặc điểm, biểu tượng, điều kiện sử dụng. Đây là căn cứ để khách hàng nhận biết, phân biệt, so sánh và lựa chọn SPDV giữa các NH” [10, tr.45] Ba là, phần sản phẩm bổ sung: “Là phần tăng thêm vào vào sản phẩm hiện hữu những SPDV hay lợi ích khác, bổ sung cho những lợi ích chính yếu của khách hàng. Chúng làm cho SPDV NH hoàn thiện hơn và thỏa mãn được nhiều và cao hơn nhu cầu, mong muốn của khách hàng, tạo sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh” [10, tr.45] Sản phẩm DVNH là bao gồm các tính năng, công dụng, cách thức, giải pháp do NH tạo ra đa dạng các phương pháp, hình thức nhằm đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn nhất định của khách hàng.
Đặc điểm Tính vô hình: ”SPDV NH là những sản phẩm vô hình, việc sản xuất và cung ứng nó diễn ra đồng thời nhưng không thể sản xuất hàng loạt và lưu giữ trong kho để sau đó tiêu dùng” [22, tr. Điều này khiến cho khách hàng gặp khó khăn trong việc quyết định lựa chọn sử dụng sản phẩm. Họ chỉ có thể kiểm tra, xác định chất lượng sản phẩm trong và sau khi sử dụng [5, tr.45] Tính khó xác định. SPDV NH hết sức đa dạng.
Giá cả và cách thức mang lại lợi nhuận và lợi ích cho NH là khác nhau. ”Để đánh giá về chất lượng của SPDV thì căn cứ vào các yếu tố chủ quan của sản phẩm như giá cả sản phẩm, tính năng tiện ích của sản phẩm, độ an toàn tài chính và nhi ều yếu tố khác như trình độ đội ngũ nhân viên triển khai sản phẩm, kỹ thuật công nghệ, cơ sở hạ tầng và mức độ hài lòng của khách hàng. Đồng thời SPDV NH lại được thực hiện ở không gian và thời gian khác nhau. Tất cả những điều này tạo nên tính không đồng nhất, khó xác định chất lượng của 17 liên hệ chặt chẽ.
Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của dịch vụ khác. ”Mục tiêu của các NHTM là hướng tới những dịch vụ trọn gói cho khách hàng, những giải pháp mang tính tổng thể cho nhu cầu của khách hàng. Ví dụ: Dịch vụ tiền gửi phát triển đã kéo theo dịch vụ quản lý ngân quỹ, các sản phẩm đầu tư dựa trên số dư tài khoản hoặc sổ tiết kiệm. Các SPDVcủa NH thương mại Các SPDV của NH thương mại Các NHTM hoạt động kinh doanh trên 3 mảng nghiệp vụ lớn: Theo Peter S.Rose (2001), “nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ tín dụng - đầu tư và nghiệp vụ kinh doanh sản phẩm dịch vụ ngân hàng.