CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về mô hình hoạt động và đặc điểm của Sở giao dịch hàng hóa - Nghiên cứu về mô hình tổ chức hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa: Nordier (2013), trong nghiên cứu “Vai trò của hệ thống chứng chỉ kho hàng: Nghiên cứu điển hình tại Sở giao dịch hàng hóa nông sản Malawian”, dưới góc độ nghiên cứu vai trò của các đơn vị cấu thành Sở giao dịch hàng hóa, đã chỉ ra vai trò của hệ thống chứng nhận kho là một yếu tố thành công của Sở giao dịch hàng hóa. Nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi làm thế nào để xây dựng thành công hệ thống chứng nhận kho thông qua kiểm định ba mô hình về phát triển Sở giao dịch hàng hóa với bối cảnh tại các nước Châu Phi và nhận dạng những thành tố khác nhau cần thiết nhằm giảm tỷ lệ thất bại, qua đó, rút ra 3 yếu tố chính giúp Sở giao dịch hàng hóa thành công, đó là tài chính, bảo hiểm và khung khổ pháp lý.
Belozertsev, Rutten & Hollinger (2011), trong nghiên cứu “Sở giao dịch hàng hóa tại Châu Âu và Trung Á” đã tập trung tìm hiểu nhằm cải thiện các công cụ quản lý rủi ro và bàn luận phương thức đưa ra các công cụ quản lý rủi ro do Sở giao dịch hàng hóa cung cấp. Để đánh giá mức độ phát triển của Sở giao dịch hàng hóa, nghiên cứu phân tích các chức năng của Sở giao dịch hàng hóa đối với nền kinh tế, bao gồm: (i) quản lý rủi ro về giá (ii) giảm rủi ro đối ứng (iii) tăng tính minh bạch về giá (iv) giảm rủi ro liên quan đến giá trị thế chấp (v) chứng nhận chất lượng hàng hoá (vi) cung cấp công cụ gia nhập thị trường vốn thông qua nghiệp vụ repos. Nghiên cứu cũng chỉ ra các quan niệm sai lầm tại một số quốc gia về Sở giao dịch hàng hóa như coi Sở giao dịch hàng hóa là “một địa điểm được tổ chức để giao dịch và trao đổi hàng hoá thật”; nhận định giao nhận hàng hoá thật không quan trọng đối với một Sở giao dịch hàng hóa phái sinh; Chính phủ cần đi đầu trong việc phát triển Sở giao dịch hàng hóa; Có rất nhiều vấn đề ở thị trường hàng hoá vật chất mà Sở giao dịch hàng hóa không có tác dụng quản lý rủi ro về giá; Sở giao dịch hàng hóa không nên hoạt động vì lợi nhuận nhằm đảm bảo phục vụ lợi ích của cộng đồng ở diện rộng và không chỉ dành cho chủ sở hữu. Nghiên cứu chỉ ra yếu tố thành công của Chính phủ khi ra các quy định giúp tạo ra sự linh hoạt và cân 6 bằng ba xung đột lợi ích đó là lợi ích của khách hàng, lợi ích của Chính phủ và lợi ích của Sở giao dịch hàng hóa.
Đối với thành công của Sở giao dịch hàng hóa, nghiên cứu nhấn mạnh đến chất lượng của con người liên quan và năng lực của những người tham gia và các bên hỗ trợ khác. Nhân viên Sở giao dịch, các thành viên của Sở giao dịch và khách hàng cần được đào tạo và huấn luyện nhằm có được những ý tưởng hiểu biết chung về chức năng của thị trường giao dịch tương lai đi kèm với những kỹ thuật hiện đại hơn. Sitko & Jayne (2011), trong tài liệu “Những cản trở để phát triển Sở giao dịch hàng hóa tại Châu Phi: Nghiên cứu tại ZAMACE” đã nghiên cứu từ góc độ những khó khăn, vướng mắc của Sở giao dịch hàng hóa trong quá trình hoạt động, với bối cảnh Sở giao dịch hàng hóa nông sản của một số quốc gia tại Châu Phi được hỗ trợ của Chính phủ nhằm giải quyết những vấn đề hạn chế của thị trường lương thực. Mặc dù, nhận được sự hỗ trợ ổn định của các nhà tài trợ và kể cả của Chính phủ, Sở giao dịch hàng hóa ở một số quốc gia tại Châu Phi vẫn gặp nhiều khó khăn và phát triển còn hạn chế.
Nghiên cứu đã đưa ra 6 yếu tố tác động đến khối lượng giao dịch thấp trên Sở giao dịch hàng hóa. Thứ nhất, rủi ro cao khi không tuân thủ theo hợp đồng và chưa phát triển việc thỏa thuận nhằm hạn chế hiện tượng phá vỡ hợp đồng và hành vi đầu cơ thông qua Sở giao dịch hàng hóa. Thứ hai, xung đột lợi ích giữa người giao dịch và người môi giới do dịch vụ môi giới chưa phát triển. Thứ ba, mối quan hệ giữa dung lượng thị trường và chi phí tham gia giao dịch trên Sở giao dịch hàng hóa.
Thứ tư, mối quan hệ giữa sự lôi kéo thị trường và dung lượng thị trường nhỏ. Thứ năm, sự yếu kém của các thể chế tài chính khi cam kết tham gia Sở giao dịch hàng hóa. Thứ sáu, không thể dự báo được sự can thiệp của Chính phủ đến thị trường giao dịch hàng hóa thông qua các công cụ như cấm vận thương mại, thay đổi thuế quan. Nghiên cứu của Sitko & Jayne (2011) mới giải quyết được vấn đề là chỉ ra các nguyên nhân khiến lượng giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa thấp và đưa ra các giải pháp, khuyến nghị để khắc phục những hạn chế nêu trên.
- Về hướng nghiên cứu về yếu tố thành công đối với hợp đồng hàng hóa phái sinh của Sở giao dịch hàng hóa và thị trường giao dịch hàng hóa kỳ hạn, có một số công trình điển hình tập trung nghiên cứu như sau: + Corkish (1997), trong báo cáo “Những yếu tố quyết định thành công của đổi mới tài chính: phân tích thực tiễn từ sự thành công của công cụ phái sinh tương lai tại LIFFE” đã chỉ ra sự thành công của hợp đồng niêm yết trên Sở giao dịch hàng hóa và mối quan hệ giữa khối lượng giao dịch và quy mô thị trường. Trong đó, chứng minh sự thay đổi dung lượng thị trường có tác động tích cực đến sự tăng trưởng khối lượng giao dịch tương lai. Các hợp đồng hàng hóa phái sinh có khả năng thành công cao khi 7 có một thị trường giao ngay lớn. Tuy nhiên, kết quả của công trình không bổ trợ cho việc chỉ ra biến động thị trường giao ngay là điều kiện cần thiết để có được một hợp đồng thành công.
Đồng thời, Nghiên cứu đã kiểm định và chỉ ra lợi thế của hợp đồng ra trước và hợp đồng khi đưa ra niêm yết sẽ thành công hơn khi không có sự cạnh tranh của hợp đồng khác. Tuy nhiên, có những trường hợp nhận định trên không đúng khi đánh giá hợp đồng phái sinh ở trong nước và hợp đồng phái sinh ở nước ngoài. Black (1986), trong nghiên cứu “Thành công và thất bại của hợp đồng tương lai: Lý thuyết và thực tiễn” đã chứng minh hợp đồng trong điều kiện thị trường giao dịch giao ngay lớn và có giá biến động dường như đã làm cho hợp đồng thành công hơn. Tashijan (1995), trong bài viết “Thiết lập hợp đồng tương lai tối ưu” đã đi sâu phân tích vai trò của yếu tố cạnh tranh đối với một hợp đồng hàng hoá phái sinh thành công.
Theo đó, hợp đồng phái sinh dường như bị tác động bởi sự cạnh tranh của các hợp đồng hiện hữu, đồng thời, chỉ ra rằng khi hai hợp đồng có các đặc trưng tương đồng sẽ có một hợp đồng đạt được khối lượng giao dịch lớn và nhận định trước tiên nên tìm kiếm nhóm nhà đầu tư dám chấp nhận rủi ro và chi phí để đạt được mức bảo hiểm rủi ro về giá kỳ vọng. Các nghiên cứu đã liệt kê ở trên đều nhận định tính hiệu quả về bảo hiểm rủi ro của hợp đồng là điều kiện tiên quyết quan trọng đối với thành công của thị trường. + Đối với nội dung đo lường tính thanh khoản của hợp đồng phái sinh, Black (1986) đã sử dụng dung lượng thị trường là tiêu thức đo lường tính thanh khoản như là đại điện bởi khối lượng hợp đồng trung bình. Chordia & Subrahmanyam (2000), trong bài viết “Hoạt động giao dịch và Thanh khoản thị trường” cho rằng tính thanh khoản tăng thu hút các nhà đầu tư là do kết quả của số lượng giao dịch trên thị trường.
Các nghiên cứu trên cũng đưa ra nhận định tính thanh khoản của thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của thành công đối với Sở giao dịch hàng hóa. + Về mô hình đánh giá sự thành công hoặc thất bại của hợp đồng phái sinh Black (1986) đã tiếp cận nghiên cứu thị trường chéo để chỉ ra sự thành công của thị trường và xây dựng mô hình nhằm dự đoán thành công của các hợp đồng thông qua sử dụng mẫu 19 tỷ lệ lợi nhuận của hợp đồng tương lai từ các Sở giao dịch phái sinh ở Hoa Kỳ. Biến phụ thuộc là khối lượng giao dịch, các biến độc lập bao gồm: mối quan hệ giữa rủi ro phần dư của bảo hiểm chéo và tự bảo hiểm đối với hàng hoá; tính thanh khoản thị trường của thị trường hàng hoá chéo; thị trường tiền mặt dành cho hàng hoá và quy mô của thị trường tiền mặt dành cho hàng hoá. Sau đó, Brorsen & Fofana (2001) đã mở rộng mô hình của Black và bổ sung các yếu tố, bao gồm: (i) Sự liên kết theo chiều dọc (ii) Sự quan tâm của người mua và hoạt động của thị trường 8 giao dịch giao ngay (iii) các mặt hàng không giao dịch trên thị trường tương lai.
Mô hình cụ thể của Brorsen & Fofana (2001) đưa ra gồm các yếu tố sau: (1). Hợp đồng tự bảo hiểm rủi ro có hiệu quả trong việc giảm rủi ro hơn so với hợp đồng bảo hiểm rủi ro chéo hiện có. Giá giao ngay phải có biến động để tạo ra nhu cầu bảo hiểm rủi ro giá và đầu cơ. Chi phí thanh khoản của việc sử dụng thị trường tương lai không được cao hơn quá nhiều so với chi phí thanh khoản của việc sử dụng thị trường tương lai bảo hiểm rủi ro chéo đang có.
Thị trường giao ngay phải đủ lớn nhằm thu hút số lượng lớn người tham gia thị trường tương lai là các nhà bảo hiểm rủi ro hoặc nhà đầu cơ. Kênh tiêu thụ không có liên kết dọc hoặc tập trung ở mức cao. Thị trường giao ngay phải có các hoạt động giao dịch thường xuyên. Hàng hóa giao dịch phải đồng nhất hoặc có hệ thống tiêu chuẩn tốt Cách thức tiếp cận của Brorsen và Fofana theo hướng phân tích các ước lượng tác động của yếu tố 1 và yếu tố 7 trên khối lượng và số dư trên thị trường tương lai.