đặt vấn đề nghiên cứu sinh kế của ngƣời Mạ trong bối cảnh và các thể chế, chính sách có ảnh hƣởng đến sự tiếp cận và sử dụng các tài sản sinh kế mà cuối cùng ảnh hƣởng đến kết quả sinh kế.[9] - Trần Văn Thuận (2015), Thực trạng và giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế. Tác giả sử dụng thang đo BS là công cụ để đo lƣờng và truyền thông phúc lợi tổng thể của xã hội và sự tiến bộ theo hƣớng bền vững do IUCN đề xuất (1996). Vận dụng thang đo BS trong nghiên cứu này nhằm đánh giá tính bền vững trong phát triển sinh kế của đồng bào DTTS huyện Ba Tơ. Kết quả cho thấy các giá trị nguồn lực sinh kế của huyện Ba Tơ không đồng đều, chỉ có nguồn lực vật chất và nguồn lực tự nhiên đƣợc đánh giá là tốt.
Bên cạnh đó, nguồn lực vật chất đƣợc đánh giá là có giá trị cao nhất đây là một lợi thế của đồng bào DTTS, đồng bào cần khai thác và sử dụng nguồn lực này một cách hiệu quả hơn nữa. Nguồn lực tài chính là nguồn lực có giá trị nhỏ nhất, tình hình tài chính của đồng bào DTTS trên địa bàn huyện chƣa đƣợc sử dụng một cách hợp lý gây ra nhiều khó khăn trong việc phát triển sinh kế bền vững.[7] - Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2015), Đánh giá các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã Bình Long, La Hiên, Sảng Mộc, của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Phát triển nông thôn. Qua đánh Luan van 8 giá nguồn lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã điều tra thì các nguồn lực này ở mức độ rất hạn chế. Trong 5 nguồn lực thì nguồn lực tự nhiên là nguồn lực dồi dào nhất, ngƣời dân nơi đây phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lực này đặc biệt là nguồn đất, nguồn nƣớc….Nhìn chung sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã điều tra đều phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên, phƣơng thức canh tác còn lạc hậu chƣa đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Cần tác động các chính sách để cải thiện đời sống cho ngƣời dân nơi đây đặc biệt ở xã Sảng Mộc, một xã vùng cao có nhiều dân tộc Mông sinh sống họ vẫn theo truyền thống canh tác cũ nên hiệu quả sản xuất thấp.[8] Tóm lại, qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố trong và ngoài nƣớc, tác giả nhận thấy vấn đề phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào nghèo nói chung và đồng bào DTTS nói riêng hiện nay đang đƣợc xem là một kênh ƣu tiến trong chính sách xóa đói giảm nghèo trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam. Các tổ chức tài trợ, các sáng kiến giảm nghèo trên thế giới trong những năm gần đây thƣờng hƣớng việc hỗ trợ vào vấn đề này. Các công trình nghiên cứu cũng đã giúp hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến sinh kế, sinh kế bền vững cho ngƣời nghèo, làm rõ những đặc điểm đặc thù trong sinh kế của đồng bào DTTS tại một số địa phƣơng, đƣa ra nhiều đề xuất có giá trị giúp xây dựng mô hình và ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào DTTS. Tuy nhiên, cho đến hiện tại vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu về sinh kế cho đồng bào DTTS ở KonPlông, vì vậy tác giả đã chọn vấn đề này để làm để tài cho luận văn cao học của mình.
Luan van 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG 1. SINH KẾ VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG 1. Khái niệm sinh kế và phát triển sinh kế bền vững a. Khái niệm sinh kế Sinh kế đƣợc hiểu là “tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” (Theo định nghĩa của DFID).
Các nguồn lực mà con ngƣời có đƣợc bao gồm: (1) Vốn con ngƣời; (2) Vốn xã hội; (3) Vốn tự nhiên; (4) Vốn tài chính; (5) Vốn vật chất. - Vốn con người: Bao gồm sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ biểu hiện ở kỹ năng, kiến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của ngƣời dân. Có thể ngƣời dân cố gắng làm việc siêng năng nhƣng do sức khỏe không đảm bảo, năng lực hạn chế nên không có khả năng tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống do năng suất lao động thấp. Đối với đồng bào DTTS, do đời sống khó khăn, cô lập với bên ngoài nên trình độ học vấn thƣờng rất hạn chế.
- Vốn xã hội: Thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội có ý nghĩa trong việc đảm bảo phần nào những điều kiện cần thiết cho cuộc sống của hộ gia đình. Tình làng, nghĩa xóm đƣợc thể hiện thông qua việc thúc đẩy sự hợp tác trong sản xuất. Việc phát huy hiệu quả vai trò của các tổ chức xã hội truyền thống cũng nhƣ các tổ chức đoàn thể xã hội hiện đại ngày nay là điều kiện quan trọng để gia tăng nguồn vốn xã hội, phục vụ cho sinh kế của ngƣời dân. - Vốn tự nhiên: Khả năng cung ứng quỹ đất sản xuất, sông biển ao hồ có thể sử dụng để sản xuất của hộ gia đình cũng nhƣ cộng đồng cùng với điều Luan van 10 kiện thuận lợi hay khó khăn của việc khai thác các nguồn lực ấy là nguồn vốn tự nhiên.
- Vốn tài chính: Vốn tài chính đƣợc thể hiện bằng khả năng tạo ra dòng tiền cho hộ gia đình. Nguồn tiền đó thƣờng có đƣợc do tiết kiệm, đi làm thuê, bán sản phẩm hoặc từ các hỗ trợ của chính phủ, của các tổ chức xã hội khác. Ngoài ra, việc tiếp cận đƣợc các nguồn vốn vay của các hộ nghèo là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo nguồn vốn tài chính cho họ. - Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn của ngƣời dân nhƣ hệ thống đƣờng sá, điện nƣớc, chợ búa, trƣờng học, thông tin liên lạc cùng các tài sản sinh hoạt nhƣ tivi, xe máy và các vật dụng cần thiết khác trong gia đình nhƣ giƣờng, tủ, bàn.
đƣợc xem là nguồn vốn vật chất. Tuy nhiên, đối với các hộ DTTS, những vật dụng này vẫn đang là đồ xa xỉ. Phát triển sinh kế bền vững Ý tƣởng sinh kế bền vững lần đầu tiên đƣợc giới thiệu bởi Ủy ban Brundtland về Môi trƣờng và Phát triển, và năm 1992 Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Môi trƣờng và Phát triển mở rộng khái niệm thúc đẩy việc đạt đƣợc sinh kế bền vững nhƣ là một mục tiêu rộng hơn của xóa đói nghèo. Trên cơ sở ý tƣởng đó, Chambers và Gordon (1992) đã đƣa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp hộ gia đình đó là: “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc, duy trì và tăng cƣờng khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phƣơng và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn.
Sinh kế bền vững cung cấp một phƣơng pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói”.[8] Theo các tác giả trên, sinh kế bền vững bao gồm con ngƣời, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lƣơng thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài Luan van 11 sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình nhƣ dƣ nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phƣơng và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tƣơng lai.
Nội hàm của sinh kế bền vững, đồng thời cũng là tiêu chí quan trọng nhất cần hƣớng đến của sinh kế bền vững là giải quyết các yêu cầu sau đây: - Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng tạo ra thu nhập, của cải đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con ngƣời trong ngắn hạn cũng nhƣ trong dài hạn. - Sinh kế của cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng phải có khả năng giúp con ngƣời vƣợt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra. - Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hƣởng xấu đến nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tƣơng lai. Khung sinh kế bền vững (DFID- 2002) Luan van 12 1.
Những đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số a. Khái niệm dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Ở nƣớc ta hiện nay, khái niệm DTTS đƣợc sử dụng chính thức trong các tài liệu chính thức của Nhà nƣớc đó là: “Những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [6]. Đây là khái niệm chính thức đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này.
Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế Tây Nguyên hiện nay thực sự là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, nơi cƣ trú của 47 dân tộc anh em, với rất nhiều đặc trƣng, sắc thái của nhiều tộc ngƣời, nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc hội tụ; đồng thời cũng là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động về cơ cấu dân cƣ nhanh nhất cả nƣớc. Mặc dù vậy, do có dân số ít, phân bố khu vực cƣ trú của các cộng đồng DTTS Tây Nguyên khá biệt lập với cộng đồng ngƣời Kinh, trình độ sản xuất và trình độ văn hóa của các DTTS có nhiều nét đặc thù, điều này đã làm cho hoạt động sinh kế của đồng bào DTTS có một số đặc điểm sau: - Đặc điểm sống của đồng bào DTTS là cố kết cộng đồng, gắn với những luật tục theo kiểu bộ tộc, khép kín chính vì vậy hoạt động sinh kế của họ lệ thuộc vào tự nhiên, chƣa quen với sản xuất kinh tế hàng hóa.