Tổng quan nghiên cứu

Phát triển vùng cây dược liệu bền vững đang là chiến lược kinh tế mũi nhọn tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt trong khuôn khổ Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu quy hoạch 10.000 ha tại vùng miền núi phía Bắc. Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai sở hữu tổng diện tích tự nhiên 106.189,69 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 65,49% (khoảng 69.538,69 ha), tạo điều kiện tự nhiên lý tưởng cho nhiều loại dược liệu quý sinh trưởng. Tuy nhiên, trước năm 2015, nguồn chè dây (Ampelopsis cantoniensis Planch.) chủ yếu bị khai thác tự nhiên manh mún, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng nguồn gen bản địa và thất thoát giá trị gia tăng.

Đề tài luận văn thạc sĩ "Phát triển sản xuất chè dây trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai" do tác giả Trương Hoài Thương thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Thị Thuận, tập trung giải quyết bài toán chuyển dịch từ khai hoang tự nhiên sang sản xuất hàng hóa tập trung. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển sản xuất cùng các yếu tố ảnh hưởng trong giai đoạn 2013 - 2015, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững chè dây giai đoạn tiếp theo. Nghiên cứu mang ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn khi trực tiếp tác động đến sinh kế của 75.145 người dân toàn huyện, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số với dân tộc Dao chiếm 27,91% và dân tộc H'Mông chiếm 26,05%, góp phần ổn định nguồn dược liệu đạt chuẩn phục vụ ngành y dược học cổ truyền.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa và lý thuyết chuỗi giá trị nông sản gắn với liên kết kinh tế bốn nhà. Phát triển sản xuất được tiếp cận dưới góc độ mở rộng quy mô hợp lý theo chiều rộng (tăng diện tích, số hộ tham gia) và chuyển dịch chất lượng theo chiều sâu (nâng cao năng suất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, giảm chi phí).

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nền tảng bao gồm: cây dược liệu, chuỗi cung ứng dược liệu sạch GACP-WHO, giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị tăng thêm (VA) và thu nhập hỗn hợp (MI). Khung phân tích kinh tế xác định hiệu quả sản xuất thông qua công thức trừ lùi chi phí trung gian từ giá trị sản xuất để tính toán giá trị gia tăng và thu nhập ròng cho nông hộ trên một đơn vị diện tích canh tác.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp 3 cách tiếp cận khoa học: tiếp cận hệ thống, tiếp cận kỹ thuật lâm sinh và tiếp cận xã hội học nông thôn. Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp bao gồm 92 hộ sản xuất chè dây được chọn ngẫu nhiên phân tầng tại 3 xã trọng điểm: Mường Hum, Trung Lèng Hồ và Dền Thàng. Cùng với đó là các cuộc phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nông nghiệp cấp huyện và đại diện doanh nghiệp thu mua chế biến như Công ty TNHH MTV Traphacosapa.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh kinh tế vi mô và ma trận SWOT là nhằm đánh giá chính xác các tham số chi phí, lợi nhuận thực tế và lượng hóa tác động của các liên kết thị trường. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp từ tháng 03/2016 đến tháng 06/2016, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 từ Chi cục Thống kê và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bát Xát. Quy trình kỹ thuật đối chiếu áp dụng theo tiêu chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái của Tổ chức Y tế Thế giới (GACP-WHO) với mật độ tiêu chuẩn 6.667 cây/ha.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô diện tích, toàn huyện Bát Xát đến năm 2015 có diện tích chè dây thu hái tự nhiên lên tới 18.044 ha, tập trung trên diện tích đất rừng phòng hộ và rừng sản xuất được giao khoán. Diện tích trồng thuần thâm canh bằng phương pháp giâm hom đạt khoảng 10 ha, được nhân rộng từ mô hình khảo nghiệm 1 ha triển khai năm 2014 tại xã Mường Hum. Năng suất chè dây khô bình quân đạt từ 6 đến 7 tạ/ha (tương đương 600 - 700 kg/ha khô).

Thứ hai, về chuỗi phân phối, sản phẩm chè dây sau sơ chế (băm, sao, ủ men, phơi sấy) được tiêu thụ qua 2 kênh chính: khoảng 60% sản lượng bán trực tiếp cho doanh nghiệp dược phẩm theo hợp đồng cam kết giá, 40% còn lại tiêu thụ qua thương lái phục vụ thị trường du lịch và bán buôn tiểu ngạch. Sản phẩm được phân thành 3 loại chất lượng theo tỷ lệ búp non và cuộng, tạo ra mức chênh lệch giá bán từ 15% đến 25% giữa các phân khúc.

Thứ ba, về hiệu quả kinh tế, các hộ trồng chè dây thâm canh có áp dụng kỹ thuật giâm hom và bón phân hữu cơ có chỉ số giá trị tăng thêm (VA) và thu nhập hỗn hợp (MI) cao hơn khoảng 30% so với nhóm hộ chỉ thu hái tự nhiên thuần túy, do giảm thiểu thời gian tìm kiếm và tăng tỷ lệ thu hoạch búp non đạt phẩm cấp cao.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CƠ CẤU CHUỖI CUNG ỨNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ              |
+-------------------------------------------------------------------------+
| [Nhóm hộ trồng hom (10 ha)]     --> Bán trực tiếp (60%) --> [Traphaco]  |
|                                     (Giá ổn định, đạt chuẩn GACP-WHO)   |
|                                                                         |
| [Hộ thu hái tự nhiên (18.044 ha)]-> Bán thương lái (40%)--> [Chợ tự do] |
|                                     (Giá biến động, chất lượng không đều)|
+-------------------------------------------------------------------------+
| Năng suất: 6 - 7 tạ khô/ha  |  VA & MI nhóm trồng hom cao hơn 30%       |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên sự bứt phá của mô hình sản xuất mới bắt nguồn từ sự đồng hành của doanh nghiệp đầu chuỗi là Traphacosapa kết hợp với các dự án hỗ trợ phát triển như Quỹ VBCF và Dự án BioTrade (Helvetas). Điều kiện tự nhiên của Bát Xát với khí hậu cận nhiệt đới á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình 18°C và độ ẩm 86% là môi trường tối ưu cho hàm lượng hoạt chất flavonoid trong chè dây tích lũy cao nhất.

Khi so sánh với các loại cây dược liệu khác tại Lào Cai như Actiso tại Sa Pa (cho doanh thu khoảng 120 triệu đồng/ha) hay Tam thất, Đương quy tại Bắc Hà, chè dây Bát Xát có ưu thế vượt trội về chi phí đầu tư ban đầu thấp, cây ít sâu bệnh và có thể thu hoạch kéo dài 3 lứa/năm sau khi kết thúc giai đoạn kiến thiết cơ bản. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy rõ ràng khi biểu diễn qua biểu đồ so sánh cơ cấu chi phí trung gian (IC) và giá trị sản xuất (GO), mô hình thâm canh có kiểm soát chất lượng giúp nông dân nâng cao năng lực đàm phán giá, tránh bị tư thương ép giá vào các tháng thu hoạch rộ (tháng 6 đến tháng 10).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch vùng sản xuất chè dây tập trung giai đoạn 2017 - 2020. Ủy ban nhân dân huyện Bát Xát cần phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát quỹ đất chưa sử dụng (hiện còn 30.148,68 ha) để quy hoạch mở rộng diện tích trồng thâm canh lên 50 - 100 ha tại các xã Mường Hum, Dền Thàng và Trung Lèng Hồ, chấm dứt tình trạng khai thác kiệt quệ rừng tự nhiên.

Thứ hai, phát triển mô hình kinh tế tập thể và củng cố liên kết dọc. Thành lập ít nhất 3 hợp tác xã hoặc tổ hợp tác sản xuất dược liệu chuyên biệt tại các xã vùng cao, đóng vai trò đầu mối ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn với doanh nghiệp chế biến dược phẩm, cam kết 100% sản lượng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO được thu mua với mức giá sàn bảo hiểm rủi ro.

Thứ ba, chuẩn hóa và chuyển giao quy trình kỹ thuật nông hóa thổ nhưỡng. Trạm Khuyến nông huyện cần tổ chức tối thiểu 10 lớp tập huấn thực địa mỗi năm cho khoảng 300 lượt hộ nông dân về kỹ thuật nhân giống hom vô tính cắt đoạn 20 - 25 cm, sử dụng dung dịch kích thích ra rễ và tuân thủ định mức phân bón cân đối (75 kg Urea, 100 kg Supe lân, 50 kg Kali sunfat/ha/năm), nghiêm cấm sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật cấm.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng và hỗ trợ chế biến bảo quản. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai và huyện Bát Xát cần lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình 135 theo Quyết định 1384/QĐ-UBND để hỗ trợ 50% chi phí mua máy sấy nhiệt sạch và máy cắt chè liên hoàn cho các nhóm hộ, đồng thời tạo điều kiện cho các hộ nghèo tiếp cận vốn vay ưu đãi lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nông nghiệp tại tỉnh Lào Cai và các tỉnh vùng Tây Bắc. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng các đề án phát triển dược liệu cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp bền vững.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến dược liệu và thực phẩm chức năng. Tài liệu này cung cấp số liệu thực tế về chuỗi cung ứng, cấu trúc giá thành sơ chế 100 kg chè dây khô và các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào theo GACP-WHO.

Nhóm thứ ba là các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận đánh giá hiệu quả kinh tế cây dài ngày và mô hình liên kết chuỗi giá trị tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ tư là các hợp tác xã nông nghiệp và bà con nông dân vùng cao. Nghiên cứu mang lại cẩm nang thực hành chi tiết từ kỹ thuật ươm hom giống, lịch thời vụ bón phân đến quy trình ủ men và sấy khô chè thương phẩm đạt giá trị kinh tế cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

Cây chè dây Bát Xát có đặc tính sinh học và giá trị dược liệu như thế nào?

Chè dây (Ampelopsis cantoniensis) thuộc họ Nho (Vitaceae), là dạng dây leo thân gỗ mềm, mọc tự nhiên trên vùng núi cao ẩm mát. Hoạt chất chính trong lá là flavonoid và tanin, có tác dụng kháng khuẩn Helicobacter pylori, làm liền vết loét dạ dày tá tràng và an thần. Chu kỳ sinh trưởng mạnh từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.

Cỡ mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu được triển khai ra sao?

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tiếp 92 hộ nông dân sản xuất và thu hái chè dây tại 3 xã đại diện (Mường Hum, Trung Lèng Hồ, Dền Thàng) trong thời gian từ tháng 03/2016 đến tháng 06/2016, kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và tổng hợp chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015.

Năng suất và giá trị kinh tế bình quân của chè dây đạt mức bao nhiêu?

Năng suất thu hoạch chè dây khô đạt khoảng 6 đến 7 tạ/ha mỗi năm. Sản phẩm khô sau sơ chế được phân làm 3 loại chất lượng. Nhóm hộ áp dụng quy trình trồng thâm canh theo tiêu chuẩn sạch đạt giá trị gia tăng (VA) và thu nhập hỗn hợp (MI) cao hơn 30% so với phương thức thu hái hoang dã.

Kỹ thuật nhân giống chè dây bằng hom cành có yêu cầu gì cốt lõi?

Nông dân cần lựa chọn cành bánh tẻ khỏe mạnh thu hái vào tháng 8 - 9, cắt thành từng đoạn hom dài 20 - 25 cm có 3 - 4 mắt mầm, xử lý nhúng nhanh qua dung dịch kích rễ từ 3 đến 5 giây rồi giâm nghiêng 60 độ trong cát ẩm có mái che, đảm bảo mật độ trồng thực địa 6.667 cây/ha.

Những thách thức lớn nhất trong việc phát triển sản xuất chè dây tại địa phương là gì?

Thách thức chính gồm có: diện tích canh tác tự nhiên bị suy kiệt do thu hái quá mức; tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số còn manh mún; kỹ thuật sơ chế thủ công chưa đồng đều dẫn đến phẩm cấp chè chưa cao; và sự phụ thuộc vào thương lái tự do khi chưa mở rộng liên kết hợp đồng.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất chè dây hàng hóa tại địa bàn miền núi đặc thù.
  2. Thực trạng sản xuất tại Bát Xát năm 2015 ghi nhận 18.044 ha diện tích thu hái tự nhiên và 10 ha thâm canh, năng suất đạt 6 - 7 tạ khô/ha với sự tham gia chủ yếu của 92 hộ dân thuộc vùng khảo sát.
  3. Luận văn chứng minh tính ưu việt của mô hình liên kết chuỗi giá trị nông dân - doanh nghiệp (tiêu biểu như Traphacosapa) gắn với chuẩn hóa quy trình kỹ thuật GACP-WHO.
  4. Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch vùng trồng, thành lập hợp tác xã, chuyển giao công nghệ và chính sách vốn vay tạo tiền đề mở rộng diện tích lên 50 - 100 ha giai đoạn 2017 - 2020.
  5. Luận văn là công trình khoa học có tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp nền tảng dữ liệu quan trọng cho chiến lược xóa đói giảm nghèo bền vững của tỉnh Lào Cai.

Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp chế biến và viện nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các mô hình định lượng và đề xuất chính sách từ luận văn để triển khai nhân rộng mô hình liên kết dược liệu tại các địa phương có điều kiện thổ nhưỡng tương đồng.