CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, ngân hàng ra đời từ rất sớm và ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu.
Khái niệm NHTM được định nghĩa khác nhau ở các nước nhưng về cơ bản các khái niệm đều dựa trên các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, ví dụ: Định nghĩa của Mỹ (FED): Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi và cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng séc hay bằng rút tiền điện tử) hoặc cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại, vay cá nhân, vay hộ gia đình sẽ được xem là một ngân hàng. Định nghĩa của Pháp: NHTM là những tổ chức thường xuyên nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Tại Việt Nam, theo Luật các TCTD năm 2010, NHTM là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác như mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế. theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Trên cơ sở những loại hình dịch vụ cơ bản, truyền thống của ngân hàng, cùng với sự phát triển bùng nổ của CNTT, các NHTM ngày càng mở rộng 5 quy mô hoạt động với loại hình dịch vụ cung cấp đa dạng, hiện đại, đáp ứng nhu cầu càng cao của khách hàng và yêu cầu phát triển kinh doanh. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại a. Hoạt động kinh doanh đa dạng Các NHTM hiện nay không chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ truyền thống đơn thuần như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán mà với sự phát triển của công nghệ, sự hội nhập nền kinh tế cũng như sự phát triển nhu cầu khách hàng và dưới áp lực cạnh tranh buộc các ngân hàng phải đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ nhằm theo kịp xu hướng thị trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng Các NHTM hiện nay luôn cố gắng trang bị, ứng dụng những tiến bộ của CNTT để nâng cao năng lực quản trị, giảm thiểu các tác nghiệp thủ công, tăng cường quản lý rủi ro, đảm bảo sự phát triển bền vững an toàn.
Các NHTM đầu tư khá lớn cho hệ thống ngân hàng lõi (corebanking) và triển khai các chương trình phần mềm như quản lý quan hệ khách hàng (CRM-customer relationship management), quản lý khoản vay, quản lý hồ sơ tập trung. Ngoài ra, việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mang hàm lượng công nghệ cao để tăng tiện ích sản phẩm là một xu hướng quan trọng được các NHTM chú trọng đầu tư. Cạnh tranh gay gắt Giai đoạn trước khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường, số lượng các NHTM của Việt Nam khá ít, chủ yếu là các NHTM quốc doanh. Thị trường tài chính ngân hàng giai đoạn này có thể coi là nghiêng về người bán-các ông lớn ngân hàng trong mối quan hệ xin cho giữa ngân hàng và khách hàng.
Tuy nhiên, sau cải cách mở cửa và bước sang nền kinh tế thị trường, số lượng NHTMCP tăng lên nhanh chóng cùng với sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài tạo nên một môi trường cạnh tranh khá gay gắt. 6 Các ngân hàng phải chạy đua trong việc tìm kiếm, mở rộng và giữ chân khách hàng với nhiều chính sách ưu đãi, cạnh tranh về dịch vụ, đẩy mạnh các hoạt động marketing, quảng bá thương hiệu, sản phẩm. Có thể nói, môi trường cạnh tranh đã thúc đẩy hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam phát triển, phù hợp với xu thế của toàn cầu. Rủi ro cao Trong những năm gần đây, môi trường kinh tế nhiều biến động như khủng hoảng kinh tế thế giới, tình trạng suy thoái thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng như thay đổi về chính sách (yêu cầu về mức vốn điều lệ tối thiểu đối với các NHTM, thay đổi về yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng, hạn chế tăng trưởng tín dụng.) đã ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động của hệ thống NHTM, tạo ra nhiều rủi ro cho ngân hàng trong đó là tình trạng nợ xấu tăng cao, giảm lợi nhuận thậm chí kinh doanh thua lỗ, dẫn đến phải tái cơ cấu hoạt động, mua bán, sáp nhập ngân hàng để tăng cường tiềm lực tài chính, tránh đổ vỡ hệ thống ngân hàng.
Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Căn cứ Luật TCTD 2010 sửa đổi, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Đây có thể được coi là những hoạt động nghiệp vụ cơ bản, cốt lõi của NHTM để phân biệt với các TCTD khác. - Huy động vốn: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Các NHTM có thể huy động nhận tiền gửi từ nhiều đối tượng: huy động từ các TCTD, NHNN thông qua thị trường liên ngân hàng, nhận tiền gửi của các khách hàng cá 7 nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác trong nền kinh tế.
- Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Bên cạnh đó, NHTM còn có các hoạt động kinh doanh cơ bản khác như kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, đầu tư. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng thương mại Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh tế của quốc gia. Nhận ra tầm quan trọng của dịch vụ, các nhà nghiên cứu hàn lâm trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực này từ đầu thập niên 1980. Tuy nhiên, do dịch vụ có nhiều tính chất phức tạp nên cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh về dịch vụ. Dịch vụ hay lĩnh vực dịch vụ trong nền kinh tế được xác định theo nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn: Ở góc độ chung nhất về thống kê kinh tế, dịch vụ được coi là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm các ngành nông nghiệp và công nghiệp.
Theo Noel Capon (2009), dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu. Theo nhiều nhà nghiên cứu, dịch vụ thông thường liên quan con người (giáo dục, y tế), đến sản phẩm (sửa chữa, vận chuyển) hoặc thông tin (nghiên cứu thị trường). 8 Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa dịch vụ.
Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Bản thân ngân hàng là một dạng kinh doanh ngoại tệ, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế. Vậy dịch vụ ngân hàng là gì? Khái niệm về dịch vụ nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu như sau: Đứng trên góc độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng thì có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, cất trữ tài sản. và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi là một siêu thị dịch vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát 1.
Dịch vụ kinh doanh 7. Dịch vụ tài chính 2. Dịch vụ liên lạc 8. Dịch vụ liên quan 9 đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội 3.
Dịch vụ xây dựng triển củavàngân thi công hàng. Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến Theo WTO: Tronglữ hành bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức thương mại 4. Dịch vụ phân thế phối giới, dịch vụ tài10. Dịchđược chính vụ giải xếptrí,vào văn phân hoá vàngành thể thao thứ 7 trong 12 phân 5.
Dịch vụ giáo dục dịch vụ. Dịch vụ vận tải 6. Dịch vụ môi trường 12.