Chương 1. Lý luận cơ bản về phát triển sản phẩm chứng khoán phái sinh tại công ty chứng khoán 1. Khái quát về công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán “Thị trường chứng khoán” là nơi các giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện mà các bên tham gia không cần trực tiếp gặp mặt.
Mọi hoạt động của họ trên thị trường đều được thực hiện thông qua các CTCK. Chính vì thế mà CTCK có một vai trò rất quan trọng trong việc vận hành TTCK. Khái niệm về CTCK có thé được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Trong cuốn sách “Lý thuyết tài chính tiền tệ” của Đại Học KTQD, PGS. Cao Thị Ý Nhi và TS.
Đặng Anh Tuấn cho rằng: “Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán, là một đơn vị có tư cách pháp nhân, có nguồn vốn riêng và hạch toán độc lập”. Trong khi đó theo “luật chứng khoán số 62” Quốc Hội (2010) đã quy định thì “Công ty chứng khoán là công ty cô phần, công ty TNHH thành lập theo giấy phép do UBCK nhà nước cấp, theo đó công ty chứng khoán được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh bao gồm: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.” Tóm lại,CTCKIlà một “tổ chức trung gian tài chính” thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ trên TTCK. Không giống như các doanh nghiệp SXKD thông thường, sản phẩm của CTCK gọi là“ dịch vụ tài chính”. Nguyén tắc hoạt động của công ty chứng khoán CTCK hoạt động theo hai nhóm “nguyên tắc cơ bản” đó là: “nhóm nguyên tắc mang tính chất đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính” > Nhóm nguyên tắc đạo đức - CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng.
- Kinh doanh có ki năng, tận tuy ,có tinh thần trách nhiệm. - Công ty luôn phải “ưu tiên” thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty. - Có nghĩa vụ “bảo mật thông tin” cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước. - Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các “rủi ro” mà khách hàng có thé phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn.
- Công ty không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư van của mình. - Nghiêm cấm thực hiện các “giao dịch nội gián”. Đặc biệt các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây ra sự thiệt hại cho các NĐT khác. - Không được tiến hành các giao dịch gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và ban chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
> Nhóm nguyên tắc tài chính - CTCK cần phải đảm bảo các yêu cầu về vốn , cơ cấu vốn và nguyên tắc hoạch toán, báo cáo theo các quy định của UBCK Nhà nước. - Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng. - Công ty không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng để phục vụ cho giao dịch của khách hàng. - Công ty phải “tách bạch tài sản” của khách hàng (tiền và chứng khoán) của khách hàng với tài sản của mình.
- CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thé chấp dé vay vốn trừ trường hợp được khách hàng chấp nhận bằng văn bản 1. Cac hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán Các CTCK có hoạt động kinh doanh khá đa dạng, theo như“luật chứng khoán số 62/2010/QH12” và “nghị định sửa đổi 151/2018/NĐ-CP hiện nay thì CTCK có thể thực hiện một, một số hoặc toàn bộ HDKD sau đây: - “Môi giới chứng khoán”: Là nghiệp vụ củaCTCKkhi đứng ra làm “trung gian thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán” cho khách hàng thông qua các SGDCK trên “thi trường tập trung” hay “thi trường phi tập trung OTC”. Day là nghiệp vụ cơ bản nhất của CTCK. Yêu cầu “vốn pháp định” của hoạt động MGCK là 25 tỷ đồng.
- “Ty doanh chứng khoán”: Là “nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán ”mà CTCK với tư cách là NDT tổ chức trên TTCK. Công ty thực hiện giao dịch trên “thị trường thứ cấp” hay mua chứng khoán trong “các đợt IPO” của tổ chức phát hành dé năm giữ và nhận cô tức trong tương lai. Thông qua hoạt động này, CTCK tham gia điều tiết và tạo thanh khoản cho TTCK. Tuy nhiên, dé hạn chế những “xung đột lợi ích” có thể xảy ra giữa CTCK và khách hàng của họ thì CTCK phải đảm bảo được nguyên tắc đạo đức như đã đề cập ở trên.
Yêu cầu về “vốn pháp định” của hoạt động “tự doanh chứng khoán” là 50 tỷ đồng. - “Bảo lãnh phát hành chứng khoán”: Là nghiệp vụ của CTCK nhằm giúp tô chức phát hành hoàn thiện các “thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng” đồng thời“nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tô chức phát hành dé bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết” hoặc cố găng tối đa để phát hành số chứng khoán cần phát hành của tô chức phát hành. Yêu cầu “vốn pháp định” của hoạt động “bảo lãnh và phát hành chứng khoán” là 165 tỷ đồng. - “Tư vấn đầu tư chứng khoán”: Là nghiệp vụ củaCTCK nhằm cung cấp cho khách hàngcác“báo cáo phân tích đầu tư” và đưa ratư vanvé việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán.
Yêu cầu “vốn pháp định” là 10 tỷ đồng. - “Nghiệp vụ tư vấn tài chính”: CTCK cung cấp cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn về tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, thâu tóm, sáp nhập, tư vấn cổ phần hóa, chào bán, niêm yết, phát hành chứng khoán ra công chúng,. Ngoài ra hiện nay ở một số CTCK còn cung cấp các nghiệp vụ hỗ trợ khác bao gồm: - “Nghiệp vụ lưu kí chứng khoán”: Đây là yêu cầu đầu tiên để các chứng khoán có thể được giao dịch trên thị trường tập trung.Hoạt động này bao gồm việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến chứng khoán lưu kí. Việc lưu kí chứng khoán giúp cho quá trình thanh toán tại SGDCK được thực hiện thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng, hạn chế một số rủi ro cho người nắm giữ chứng khoán do những vấn đề về hong, rách, thất lạc chứng chỉ chứng khoán,.
- “Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán”: Đối với các TTCK còn hạn chế về thời gian giao dịch thì thông thường sau khi bán chứng khoán khách hàng sẽ không nhận được ngay số tiền mà mình bán mà phải đợi đến khi đủ thời gian cho phép giao dịch. Do đó hoạt động “cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán” là việc CTCK ứng trước tiền bán chứng khoán cho khách hàng trước khi khách hàng nhận được tiền bán thực sự của mình. - “Cho vay margin”: Là việc CTCK cho khách hang vay theo tỉ lệ quy định của công ty khi khách hàng đã bị hết sức mua nhưng muốn có thêm vốn đầu tư, lượng chứng khoán sẵn có của khách hang được coi là tài sản đảm bảo dé vay. Vai trò và chức nang của công ty chứng khoán > Vai trò - Đối với tô chức phát hành:Các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động phát hành cô phiếu đều có mục đích là dé huy động vốn dài hạn.
Tuy nhiên không phải cứ “phát hành chứng khoán ra công chúng” là sẽ có người mua, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như là “uy tín” của doanh nghiệp và “độ an toàn” của loại chứng khoán đó.Băng hoạt động “bảo lãnh phát hành chứng khoán”của mình các CTCK giúp cho các nhà phát hành huy động vốn tốt hơn khi trở thành “cầu nối” giữa tổ chức phát hành và NDT. Từ đó CTCK cũng giúp luân chuyển vốn trong nền kinh tế. - Đối với nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như MGCK, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục dau tư, các CTCK có vai trò làm giảm chi phí giao dịch, thời gian cũng như là rủi ro với các khoản đầu tư của khách hàng. Thông thường các loại hàng hóa mua bán qua trung gian sẽ bị gia tăng chi phí.
Nhưng đối với chứng khoán là loại hàng hoá có độ rủi ro cao nên nhà đầu tư phải mắt rất nhiều thời gian công sức và chi phí dé tìm hiểu, nghiên cứu trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Các CTCK với trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và uy tín sẽ giúp nhà đầu tư sử dụng vốn một cách có hiệu quả. - Đối với thị trường chứng khoán: Thông qua hoạt động tự doanh của mình, CTCK góp phần vào việc tạo thanh khoản cho TTCK, hỗ trợ“tạo lập giá cả” và“điều tiết thị trường”. Với cơ chế xác định giá chứng khoán thông qua cung- cầu thì việc tham gia TTCK với tư cách là NDT tổ chức của CTCK sẽ có tác dụng điều tiết giá cả trên TTCK khi thực hiện giao dịch.
- Đối với cơ quan quản lí thị trường: Mọi giao dịch trên TTCK đều diễn ra thông qua các CTCK, do đó CTCK có thể nắm được rất nhiều thông tin của TTCK.Vi vậy, CTCK sẽ giúp các cơ quan quản lý giám sát và công khai hoá thông tin về tài sản tài chính, đồng thời kiểm soát và ngăn chặn các hành vi gian dối, thao túng trên TTCK. > Chức năng - Tạo ra cơ chế luân chuyên vốn linh hoạt giữa “người có tiền nhàn rỗi” và “người sử dụng vốn”. CTCK giúp các doanh nghiệp huy động vốn để mở rộng HDKD đồng thời giúp cho NDT sinh lời khi đem tiền sử dụng hợp lý. - Cung cấp giá cả: Thông qua hệ thống khớp giá khớp lệnh, các CTCK cung cấp kịp thời sự thay đổi về giá cả qua từng phút giúp NDT có thé đưa ra quyết định về giá, lượng một cách hợp lý.
- Tạo tính thanh khoản cho hoạt động thị trường: CTCK giúp chuyền đổi dễ dàng giữa chứng khoán và tiền mặt. Do đó, CTCK được coi là một tác nhân quan trọng giúp thúc đây “tăng trưởng kinh tế” nói chung và TTCK nói riêng. Sản phẩm chứng khoán phái sinh tại công ty chứng khoán 12. Khái quát chung về sản phẩm chứng khoán phái sinh 1.