CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại và nguồn vốn của Ngân hàng thương mại: 1. Ngân hàng thương mại: Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại: Theo Giáo sư Jeff Madura trong quyển Financial Institutions & Markets 10th ed. (Vietnamese) – NXB Cengage Learning: Ngân hàng thương mại là những định chế tài chính trung gian quan trọng nhất, phục vụ với tư cách là các đơn vị thặng dư cung ứng hàng loạt các tài khoản tiền gửi và chuyển giao các khoản ký gửi này đến các đơn vị thâm hụt thông qua việc cho vay trực tiếp hoặc mua các chứng khoán nợ.
Theo pháp lệnh “Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” ban hành ngày 24/05/1990 thì “Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Còn theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành ngày 16/06/2010 và văn bản số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng thì: NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận, trong đó: hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Qua các khái niệm về ngân hàng thương mại trên, ta có thể nói rằng NHTM là một loại hình doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật, mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Luan van 2 Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì NHTM cũng ngày càng phát triển theo hướng hoàn thiện hơn và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu. Theo thống kê từ ngân hàng nhà nước, đến 31/12/2018, mạng lưới hệ thống ngân hàng ở Việt Nam gồm 35 NHTM trong nước (trong đó có 31 Ngân hàng TMCP, 4 ngân hàng 100% vốn nhà nước), 2 ngân hàng đặc biệt thuộc Chính phủ là Ngân hàng chính sách và Ngân hàng phát triển Việt Nam, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 Ngân hàng liên doanh. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Nguồn vốn trong NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ (nội tệ và ngoại tệ) mà ngân hàng tạo lập, huy động được để phục vụ cho các hoạt động cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ tài chính ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay.
Vốn tự có được hiểu là phần vốn do ngân hàng tạo lập được thông qua vốn góp của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Nguồn vốn này mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc để được cấp phép hoạt động. Đây là nguồn vốn ổn định nên một mặt ngân hàng chủ động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt khác lại được coi như tài sản đảm bảo, tạo lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Vốn tự có của NHTM được hình thành từ vốn điều lệ hay còn gọi là vốn pháp định, vốn tự có bổ sung từ các quỹ như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi… Vốn huy động được hiểu là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế, các cơ quan đoàn thể và các cá nhân trong xã hội.
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân hàng được quyền sử dụng đối với nguồn vốn này nhưng đồng thời cũng có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi hoặc khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn. Nguồn vốn Luan van 3 này luôn biến động nên ngân hàng không được sử dụng hết mà phải có dự trữ với một tỷ lệ hợp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn đi vay là loại vốn mà ngân hàng chủ động đi vay với mục đích, thời hạn vay và đối tượng vay khác nhau khi phát sinh tình trạng thiếu vốn trong quá trình kinh doanh.
NHTM có thể vay từ Ngân hàng nhà nước (NHNN), vay từ các NHTM khác, hoặc từ các tổ chức tín dụng khác trong hoặc ngoài nước nhằm bổ sung vào vốn hoạt động kinh doanh khi ngân hàng sử dụng hết vốn khả dụng. Dưới góc độ chi nhánh ngân hàng, nhiệm vụ kinh doanh thực thi tập trung vào nguồn vốn huy động. Do đó, bài luận giới hạn phạm vi quản trị đối với nguồn vốn huy động này. Nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại Như đã đề cập ở trên, vốn huy động chính là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế, các cơ quan đoàn thể và các cá nhân trong xã hội.
Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) được hình thành từ hai bộ phận: vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá… Đây là nguồn vốn quan trọng nhất, ảnh hưởng đến quy mô cũng như hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, đồng thời là cơ sở chính của các khoản vay do đó là nguồn gốc của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Mặc dù vậy, vốn huy động từ tiền gửi cũng có những rủi ro nhất định. Nếu ngân hàng không có chiến lược quản trị thanh khoản tốt sẽ dễ dẫn đến tình trạng thừa thanh khoản vượt mức giới hạn cho phép, hoặc thiếu hụt thanh khoản nếu khách hàng rút vốn hàng loạt cùng lúc, dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng và hệ thống ngân hàng. Việc huy động vốn tiền gửi chỉ có thể thực hiện dựa trên sự tin tưởng và tín nhiệm của khách hàng dành cho ngân hàng.
Vì thế, ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt vấn đề bảo mật thông tin khách hàng, quy trình huy động và sử dụng vốn tiền gửi cần có sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính an toàn cho tài sản của khách hàng. Vốn huy động từ tiền gửi: Vốn tiền gửi của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế xã hội, dân cư, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác… Trong đó, nguồn tiền gửi từ các doanh nghiệp và dân cư là nguồn huy động quan trọng nhất vì nó là nguồn chủ yếu và mang tính chất lâu dài. Tiền gửi nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, nhu cầu chi tiêu, uy tín thương hiệu, mạng lưới, đa dạng các loại hình huy động, năng lực phục vụ… Lãi suất tiền gửi cao sẽ kích thích các cá nhân, tổ chức gửi tiền và ngược lại lãi suất thấp sẽ khiến họ thay đổi kênh đầu tư khác: mua vàng, ngoại tệ, bất động sản… Các tỉnh, thành phố, địa phương nơi người dân có thu nhập cao, quy mô tiền gửi cũng lớn hơn. Thông thường vào dịp lễ, tết, nhu cầu chi tiêu tăng cao hơn nên tiền gửi sẽ giảm.
Mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch tạo sự thuận tiện, sản phẩm đa dạng, phong phú, năng lực phục vụ tốt cũng quyết định đến quy mô và cơ cấu tiền gửi. Nhược điểm của nguồn tiền gửi là khi khách hàng có yêu cầu thanh toán thì phải phục vụ kịp thời ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn hay tiền gửi tiết kiệm chưa đến hạn. Do vậy, ngân hàng luôn phải đảm bảo tính thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ. Tiền gửi ngân hàng được chia thành các loại sau: Thứ nhất là tiền gửi thanh toán, là tiền của các cá nhân, doanh nghiệp, đoàn thể gửi vào ngân hàng thông qua việc mở tài khoản giao dịch để nhờ ngân hàng giữ, thu tiền (lương, thanh toán từ đối tác…) và cung cấp cho mình những dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong phạm vi pháp luật cho phép bao gồm phát hành séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử, phát hành thẻ ghi nợ nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế… Lợi ích của ngân hàng là chi phí lãi thấp (tối đa 0.5%/ năm theo quy định hiện hành của NHNN), nếu sử dụng để làm nguồn vốn cho vay sẽ mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Chi phí vốn thấp cũng giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, đây là loại tiền mà khách hàng có thể gửi tiền vào và rút tiền ra bất cứ lúc nào nên khi ngân hàng sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh thì rủi ro cũng rất cao, yêu cầu phải duy trì dự trữ nhiều hơn các loại tiền gửi khác. Luan van 5 Thứ hai là tiền gửi có kỳ hạn, khi khách hàng xác định cụ thể hoặc dự kiến khoảng thời gian sẽ sử dụng số tiền nhàn rỗi trong tài khoản thanh toán mà mình có, khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn để hưởng lãi suất cao hơn so với lãi suất không kỳ hạn trên tài khoản thanh toán hiện hành. Theo Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ban hành ngày 31/12/2018 quy định về tiền gửi có kỳ hạn thì tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức tín dụng với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng.
Khách hàng chỉ được gửi, nhận chi trả tiền gửi có kỳ hạn thông qua tài khoản thanh toán của chính khách hàng đó. Như vậy, với sản phẩm này, khách hàng (tổ chức kinh tế, đoàn thể, cá nhân) và ngân hàng ký kết hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, không phát hành sổ/thẻ tiết kiệm, quy định cụ thể số tiền, đồng tiền, kỳ hạn, lãi suất và các thỏa thuận khác… Khách hàng phải có tài khoản thanh toán tại ngân hàng để gửi và nhận thanh toán lãi gốc khi đến hạn.