Phần mở đầu Chƣơng 2. Cơ sở lý luận về phát triển quỹ hƣu trí tự nguyện trên TTCK Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4. Phát triển quỹ hƣu trí tự nguyện trên TTCK: Bài học kinh nghiệm từ các nền kinh tế APEC và thực trạng tại Việt Nam Chƣơng 5.
Khuyến nghị và kết luận 11 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN QUỸ HƢU TRÍ TỰ NGUYỆN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN Trong chương 2, luận án trình bày cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian từ năm 2000 và được cập nhật đến năm 2015, bao gồm khái niệm, vị trí của quỹ hưu trí tự nguyện trong hệ thống hưu trí đa trụ cột, tiêu chí được sử dụng để đánh giá sự phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK trong các nghiên cứu thực nghiệm, sự cần thiết phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK. Luận án cũng tiến hành phân tích các điều kiện phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK theo mô hình PESTLIED, cụ thể về: (i) chính sách thuế thu nhập (yếu tố chính trị - Political); (ii) tính ổn định của kinh tế vĩ mô (yếu tố kinh tế - Economic); (iii) vấn đề thuộc xã hội học (yếu tố xã hội - Sociological); (iv) cơ sở hạ tầng của thị trường tài chính (yếu tố trình độ công nghệ - Technological); (v) các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động của quỹ hưu trí tự nguyện (yếu tố pháp lý - Legal); (vi) xu hướng cải cách thu nhập hưu trí trên thế giới (yếu tố quốc tế - International); (vii) vấn đề về môi trường (yếu tố môi trường - Environmental); (viii) vấn đề về nhân khẩu học (yếu tố nhân khẩu học - Demographic).1 Quỹ hƣu trí tự nguyện 2.1 Khái quát về quỹ hƣu trí Dựa trên việc định nghĩa các chương trình hưu trí như là một thỏa thuận mang tính pháp lý về thu nhập hưu trí liên quan đến các quyền xác định theo hợp đồng của các bên thì có thể hiểu quỹ hưu trí chính là tập hợp tài sản đóng góp vào quỹ được hình thành từ các khoản tiết kiệm theo hợp đồng trong các chương trình hưu trí nhằm mục đích tài trợ hay cung cấp sự bảo đảm cho những lợi ích được hứa hẹn về thu nhập hưu trí của người hưởng lợi (PHỤ LỤC 1). Quỹ hưu trí có một số đặc điểm cơ bản như sau: Các thành viên của quỹ có quyền lợi hợp pháp đối với các tài sản của quỹ.
Các quỹ hưu trí có thể được tổ chức dưới dạng một quỹ tín thác (một quỹ độc lập có tư cách pháp nhân) hoặc một quỹ không có tư cách pháp nhân do 12 một công ty quản lý quỹ hoặc một tổ chức tài chính thay mặt cho các thành viên của quỹ quản lý. Các quỹ hưu trí thường được đóng góp bởi người sử dụng lao động (các công ty, tập đoàn, hoặc công đoàn) và người lao động. Tài sản của quỹ hưu trí có thể được quản lý nội bộ hoặc được thuê quản lý. Các khoản chi trả cho thành viên phụ thuộc vào tình hình thị trường tài chính hoặc tỷ lệ sinh lời tùy thuộc vào mô hình tài chính của quỹ là các chương trình hưu trí có mức đóng góp được xác định trước (Defined Contribution - DC) hay có mức hưởng được xác định trước (Defined Benefit - DB) (OECD, 2008).
Căn cứ trên cách phân loại các chương trình hưu trí, các loại hình quỹ hưu trí có thể được phân loại như sau: (i) Quỹ hưu trí được điều hành bởi Chính phủ bao gồm quỹ trợ cấp thu nhập hưu trí của Chính phủ và quỹ hưu trí bắt buộc vận hành theo cơ chế PAYG với mô hình kế hoạch hưu trí có mức hưởng xác định trước (DB) và không được tài trợ (mandatory publicly managed pension). Tuy nhiên, trong thực tế, tại một số quốc gia như Singapore (WEF, 2017), Malaysia (Howell, Wang & Shand, 2014), Mexico (OECD, 2007) … vẫn tồn tại chương trình hưu trí bắt buộc và được quản lý bởi Chính phủ nhưng được tài trợ hoàn toàn từ đóng góp của người tham gia và là kế hoạch có mức đóng góp xác định trước (DC), còn được biết đến như là các quỹ tiết kiệm dự phòng (mandatory provident funds) (Blommestein, 1997). (ii) Quỹ hưu trí nghề nghiệp (hay còn gọi là quỹ hưu trí bổ sung - private employee/occupational funded pension funds) được dựa trên các kế hoạch hưu trí nghề nghiệp do khu vực tư nhân quản lý điều hành và bảo đảm thanh toán quyền lợi thu nhập hưu trí cho các thành viên/đối tượng tham gia và quỹ hoạt động với vai trò là pháp nhân độc lập đối với với nhà tài trợ là người sử dụng lao động. Quỹ hưu trí nghề nghiệp là quỹ được tài trợ và có thể theo mô hình DB hoặc mô hình DC.
Các quỹ hưu trí nghề nghiệp bao gồm: Quỹ hưu trí nghề nghiệp bắt buộc (hay quỹ hưu trí bổ sung bắt buộc - private employee/occupational compulsory funded pension funds). 13 Quỹ hưu trí nghề nghiệp tự nguyện (hay quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện - private employee/occupational voluntary funded pension funds). (iii) Các quỹ hưu trí cá nhân tự nguyện dựa trên các kế hoạch hưu trí cá nhân tự nguyện (private personal/individual voluntary funded pension funds) do khu vực tư nhân quản lý điều hành theo mô hình DC và được tài trợ. Với cách gọi tên như trên cũng sẽ giúp dễ phân loại các quỹ hưu trí trong việc phân tích các vấn đề liên quan đến an sinh xã hội cũng như tái phân phối thu nhập.
Trong thực tế, cách phân loại của các loại hình quỹ hưu trí này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu về thu nhập hưu trí, đặc biệt đối với các thị trường mới nổi, được phát triển đầu tiên bởi WB (1994) và WB (2008) căn cứ vào mô hình tài chính và tính chất của quỹ hưu trí. Ví dụ như tại Indonesia, theo nghiên cứu của Muliati (2013), bên cạnh quỹ hưu trí công và mang tính chất bắt buộc, quỹ hưu trí tự nguyện là thuộc về khu vực tư nhân quản lý và bao gồm hai loại, cụ thể là các quỹ hưu trí nghề nghiệp của người sử dụng lao động và quỹ hưu trí cá nhân của tổ chức tài chính. Trong đó: Quỹ hưu trí nghề nghiệp của người sử dụng lao động được thành lập bởi một cá nhân hay một thực thể pháp lý cho người lao động của mình và những người lao động của người sử dụng lao động khác, khi đó những người sử dụng lao động khác sẽ đóng vai trò là nhà đồng sáng lập của quỹ hưu trí. Một quỹ hưu trí nghề nghiệp của người sử dụng lao động có thể theo mô hình DB hay DC.
Quỹ hưu trí cá nhân tự nguyện của tổ chức tài chính được thành lập bởi một ngân hàng hay một công ty bảo hiểm nhân thọ dành cho những người muốn tiết kiệm cho tuổi già của họ, cho dù họ là người lao động làm việc theo thời hạn hợp đồng hay tự làm chủ. Một quỹ hưu trí cá nhân của tổ chức tài chính chỉ có thể thực hiện theo mô hình DC.2 Khái niệm quỹ hƣu trí tự nguyện Khái niệm quỹ hưu trí tự nguyện mang hàm ý về loại hình quỹ hưu trí được tài trợ hoàn toàn dựa vào các khoản đóng góp tự nguyện của người tham gia vào các chương trình hưu trí tư nhân trong mối tương quan với quỹ hưu trí bắt buộc (không 14 có tài trợ và được điều hành bởi khu vực công theo cơ chế thực thu thực chi PAYG) (Blommestein, 1997; OECD, 2004). Quỹ hưu trí tự nguyện chính là trụ cột III1 trong hệ thống hưu trí đa trụ cột được WB giới thiệu vào năm 1994, bao gồm: (i) Quỹ hưu trí nghề nghiệp do người sử dụng lao động tài trợ (private employee/occupational voluntary funded pension funds) có thể theo mô hình tài chính có mức hưởng xác định trước (Defined Benefit - DB) hoặc theo mô hình có mức đóng góp xác định trước (Defined Contribution - DC): Quỹ hưu trí nghề nghiệp tự nguyện có thể có sự đóng góp từ phía người sử dụng lao động và là dạng quỹ hưu trí theo hợp đồng được ký kết bởi công ty quản lý quỹ với người sử dụng lao động đứng ra đại diện cho những người lao động tham gia hợp đồng, nhưng người lao động có quyền không tham gia và không có nghĩa vụ bắt buộc phải tham gia dạng hợp đồng này (GoC, 1999; OECD, 2004; NBS, 2011; OECD, 2011). Quỹ hưu trí tự nguyện là loại hình quỹ hưu trí được tài trợ, quỹ thu thập các khoản đóng góp và chi trả quyền lợi về thu nhập hưu trí.
Mục đích của quỹ hưu trí tự nguyện là để cung cấp cho nhân viên và người lao động tự do, hoặc bên thụ hưởng của quỹ hưu trí tự nguyện các lợi ích về thu nhập hưu trí bổ sung thêm vào an sinh xã hội bắt buộc. Qua đó, quỹ hưu trí tự nguyện được xem như là một 1 WB đã và đang nỗ lực quảng bá, hỗ trợ nhiều quốc gia cải cách hệ thống an sinh xã hội, cải cách hệ thống hưu trí của quốc gia mình theo hướng dựa trên tối thiểu ba trụ cột căn bản, bao gồm quỹ hưu trí bắt buộc (trụ cột I), quỹ hưu trí bổ sung (trụ cột II) và quỹ hưu trí tự nguyện (trụ cột III). 15 phương tiện đầu tư mang tính tập hợp được thành lập để thu thập và đầu tư các khoản đóng góp cho thu nhập hưu trí vào các loại tài sản nhằm tạo ra lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro đầu tư, từ đó làm gia tăng giá trị tài sản của quỹ để bảo đảm trách nhiệm chi trả cho các thành viên của quỹ. Quỹ hưu trí tự nguyện chủ yếu do khu vực tư nhân quản lý, là các quỹ được tài trợ do có sự tham gia đóng góp tự nguyện của người tham gia theo các thỏa thuận quy định trong hợp đồng của các chương trình hưu trí theo mô hình DB hay DC.
Sự phát triển của các quỹ hưu trí tự nguyện đi cùng với xu hướng chuyển dần từ mô hình DB sang mô hình DC (WB, 1994; Blommestein, 1997; OECD, 2004; WB, 2008; Hinz, Rudolph, Antolín & Yermo, 2010; OECD, 2011; Holzmann, 2012). So với các ngân hàng, các quỹ hưu trí tự nguyện là các nhà đầu tư tổ chức thực hiện việc quản lý quỹ thay mặt cho các thành viên và chi trả các khoản lợi tức và vốn gốc cho họ sau khi nghỉ hưu. Lợi thế của các quỹ hưu trí tự nguyện so với các ngân hàng trong vai trò nhà đầu tư tổ chức bắt nguồn từ thực tế là các khoản nợ của quỹ mang tính chất dài hạn.