Đặt vấn đề Quá lớn để sụp đổ là một thuật ngữ dùng để chỉ một trƣờng hợp đặc biệt trong kinh tế, đó là những công ty hay tập đoàn lớn, có quy mô hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hƣởng nhất định đến nền kinh tế của một quốc gia, khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra dù vì lý do gì, chính phủ nƣớc đó sẽ không để tập đoàn đó phải sụp đổ bằng những biện pháp giải cứu nhƣ hỗ trợ vốn, trả nợ hoặc sát nhập với các tập đoàn khác hoặc là chính nhà nƣớc sẽ mua lại tập đoàn đó, nhằm đảm bảo giữ vững hoạt động của tập đoàn này. Từ đó, tránh một sự sụp đổ dây chuyền với các công ty có liên kết với tập đoàn này,gây ảnh hƣởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế nƣớc đó. - Điển hình cho hiện tƣợng này là cuộc khủng hoảng ngân hàng bùng nổ tại Hoa Kỳ năm 2008, khi Tập đoàn đầu tƣ Lehman Brothers đứng trƣớc nguy cơ bị phá sản, Chính phủ Mỹ phải đứng trƣớc hai hƣớng lựa chọn: + Thứ nhất: Chính phủ Mỹ đứng ra cứu tập đoàn này. Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng tiền thuế của dân đóng để cứu Tập đoàn đầu tƣ Lehman Brothers không bị phá sản.
+ Thứ hai: Chính phủ Mỹ không đứng ra cứu và để Tập đoàn đầu tƣ Lehman Brothers phá sản. Và ở thời điểm đó, Chính phủ Mỹ đã lựa chọn phƣơng án thứ hai, điều mà Chính phủ Mỹ không ngờ tới là hậu quả mà Chính phủ Mỹ để tập đoàn này phá sản lớn hơn rất nhiều so với việc lựa chọn phƣơng án thứ nhất. Chính sự phá sản của Lehman Brothers đã khởi đầu cho cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sau đó là kéo sang Châu Âu và lan ra toàn thế giới. Vì thế hiện nay, Chính phủ các nƣớc nhƣ Mỹ, Úc… để tránh tình trạng trên và đồng thời tránh hiện tƣợng độc quyền nên đã rất cân nhắc đối với những trƣờng hợp sáp nhập các công ty kết hợp đƣa ra các chính sách kiểm soát chặt chẽ các tổ chức này.
2 Tại Việt Nam, trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã có những dấu ấn khả quan trên thị trƣờng đƣợc thể hiện thông qua việc các Ngân hàng đã công bố những báo cáo tổng kết khả quan với những con số lợi nhuận tăng vọt, đáng vui mừng. 95% các Ngân hàng đều khẳng định trong báo cáo những chỉ số cao hơn so với tình hình kinh doanh cùng kì năm trƣớc. Từ thực tế của Hoa Kỳ và các nƣớc Châu Âu. đang từng bƣớc thực hiện các chính sách nhằm hạn chế và tiến dần đến chấm dứt hiện tƣợng Quá lớn để sụp đổ.
Căn cứ tình hình thực tế hiện nay, Việt Nam chƣa có những định chế tài chính lớn ở tầm cỡ thế giới. Theo qui định hiện hành, mức vốn pháp định áp dụng đối với Ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc và Ngân hàng thƣơng mại cổ phần, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ƣơng là 3.000 tỷ, Ngân hàng chính sách và Ngân hàng phát triển là 5. Tài sản trung bình của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam năm 2016 đạt 8,5 tỷ USD (tƣơng đƣơng 187 nghìn tỷ đồng) (TS. Nguyễn Đức Thành (chủ biên), Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012 – Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, năm 2012, tr.
Tuy nhiên với mức tổng tài sản của các ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc và cổ phần lớn nhất đất nƣớc đạt mức lần lƣợt là 3,86 triệu tỷ đồng (khoảng 17,5 tỷ USD) đến 3,42 triệu tỷ đồng (khoảng 15,5 tỷ USD) (TS. Nguyễn Đức Thành (chủ biên), Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012 – Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, năm 2012, tr.176) so với GDP cả nƣớc chỉ khoảng 202,6 tỷ USD thì những ngân hàng lớn nhất này thực sự là rất lớn. Đồng thời, trong quá trình xử lý tình trạng khó khăn của các TCTD, cơ quan quản lý Nhà nƣớc không ủng hộ áp dụng phá sản đối với các TCTD yếu kém. Đề án “ Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” khẳng định “không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn trong hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nƣớc”.
Tuy nhiên, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của TCTD đƣợc Quốc hội thông qua tháng 11/2017 tập trung vào 05 phƣơng án để cơ cấu lại các TCTD đƣợc kiểm soát, bao gồm: phục hồi; sát nhập, hợp nhất, chuyển nhƣợng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp; giải thể, chuyển giao bắc buộc và đặc biệt, lần đầu tiên xuất hiện phƣơng án phá sản một TCTD để tái cấu trúc hệ thống. Chính vì vậy, nếu không may có một Ngân 3 hàng nào đó sụp đổ thì rõ ràng nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hƣởng rất nghiêm trọng. Điều này khẳng định đã đến lúc Việt Nam cần nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm ngăn chặn hiện tƣợng quá lớn để sụp đổ đã và đang tồn tại ở các nƣớc phát triển, gây không ít những khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách, nhà làm luật và các cơ quan thực thi. Đó là lý do tác giả lựa chọn làm đề tài “Học thuyết quá lớn để sụp đổ và những vấn đề đặt ra đối với ngành Ngân hàng của Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Quá lớn để sụp đổ là thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Nhận thức đƣợc rủi ro lớn từ hiện tƣợng này, các chuyên gia nƣớc ngoài đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm đƣa ra các giải pháp hạn chế tối đa thiệt hại mà nó gây ra cũng nhƣ đạt mục tiêu xóa bỏ hiện tƣợng này. Một số tài liệu nƣớc ngoài nghiên cứu về thuật ngữ này nhƣ: - Acharya (NYU), Anginer (Virginia Tech) và Warburton (Đại học Syracuse), tháng 6 năm 2014: Nghiên cứu cho thấy lợi thế chi phí tài chính của các ngân hàng lớn là 28 điểm cơ bản hàng năm trong giai đoạn 1990-2010; lợi thế chi phí đạt đƣợc trên 120 điểm cơ bản trong năm 2009, các tác giả thấy rằng lợi thế tài chính là thống kê tƣơng đƣơng với lợi thế trƣớc Dodd-Frank.
- Balasubramanian (Đại học Akron) và Cyree (Đại học Mississippi), tháng 4 năm 2014: Nghiên cứu cho thấy Sau khi thông qua Đạo luật Dodd-Frank, lợi thế về giá trị trái phiếu dƣới quyền kết hợp với kích thƣớc giảm 47%, trong khi những lợi ích liên quan đến TBTF giảm 94%., Deniz Anginer và A. "Sự kết thúc của kỷ luật thị trƣờng? Sự mong đợi của nhà đầu tƣ đối với các đảm bảo nhà nƣớc ngầm định", tháng 6 năm 2014. - Araten, Michel và Christopher Turner. "Hiểu đƣợc sự khác biệt về chi phí tài chính giữa các ngân hàng quan trọng hệ thống toàn cầu (G-SIBs) và các ngân hàng không phải là G-SIBs ở Hoa Kỳ”.
Tạp chí Quản lý Rủi ro tại các Tổ chức Tài chính 6 (4), 2013, 387-410. - Baker, Dean và Travis MacArthur. "Giá trị của Quá lớn để sụp đổ "Ngân hàng Big Bank". Khái quá vấn đề, Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế, tháng 9 năm 2009.
-Balasubramanian, Bhanu và Ken Cyree. "Sự kết thúc của Quá lớn để sụp đổ? Bằng chứng từ việc lợi nhuận trái phiếu ngân hàng lan rộng xung quanh Đạo luật Dodd-Frank” Tháng 6 năm 2012. - Balasubramanian, Bhanu và Ken Cyree. "Có kỷ luật thị trƣờng đối với các ngân hàng đƣợc cải thiện sau Đạo luật Dodd-Frank".
Tạp chí Tài chính Ngân hàng 41 (155), 2014, 155-166. - Barth, Andreas và Isabel Schnabel. "Quá lớn để sụp đổ?" Chính sách kinh tế 28 (74), 2013, 335 – 369. - Bertay, Ata Can, Asli Demirgüç-Kunt, và Harry Huizinga.
"Chúng ta cần các ngân hàng lớn? Thực trạng về hiệu suất, chiến lƣợc và kỷ luật thị trƣờng" Tạp chí Financial Intermediation 22 (4), 2013, 532-538. - Thị trƣờng Bloomberg. Ivry, Bob, "Không có Lehman Moments nhƣ các ngân hàng lớn nhất cho rằng quá lớn để sụp đổ" ngày 10 tháng 5 năm 2013. - Brewer, Elijah III và Julapa Jagtiani.
"Ngân hàng phải trả bao nhiêu tiền để trở thành quá lớn để sụp đổ và để trở thành hệ thống quan trọng? "Tài liệu làm việc số 11-37 Ngân hàng Dự trữ Liên bang Philadelphia. Ngày 2 tháng 9 năm 2011. - Carbó-Valverde, Santiago, Edward J. Kane và Francisco Rodriguez- Fernandez.
"Mạng lƣới an toàn lợi ích đƣợc dành cho những ngân hàng khó phá vỡ 5 và bung ra tại Hoa Kỳ và EU trƣớc và trong suốt cuộc suy thoái lớn "Journal of Banking & Finance, 37 (6), 2013, 1845-1859. "Các ngân hàng lớn đang nắm giữ các công ty: Những kỳ vọng hỗ trợ của chính phủ" GAO-14-631, tháng 7 năm 2014. - Quỹ Tiền tệ Quốc tế. "Làm thế nào lớn là khoản trợ cấp ngầm cho các ngân hàng, xem xét Quá lớn để sụp đổ? "Báo cáo Ổn định Tài chính Toàn cầu, Ch.
- Luận văn: TOO BIG TO FAIL IN BANKING: WHAT DOES IT MEAN? - George G. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc Thực tế tại Việt Nam hiện nay, Quá lớn để sụp đổ là một thuật ngữ một thuật ngữ đƣợc đề cập nhiều trong lĩnh vực tài chính, tuy nhiên số lƣợng công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam chƣa nhiều. Tiêu biểu có các công trình sau - Bài viết "Học thuyết Quá lớn để sụp đổ trong lĩnh vực Ngân hàng" của Thạc sỹ Đỗ Minh Tuấn – NCS Đại học Luật Hà Nội đƣợc đăng trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số tháng 4/2014 (193). Nhƣ tên gọi của bài viết, trên cơ sở tham khảo thực trạng và kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới mà đặc biệt là Hoa Kỳ và EU đối với Quá lớn để sụp đổ, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát, hạn chế hiện tƣợng này.
- Bài viết của tác giả Thu Hằng có tiêu đề „„Too big to fail – Hữu danh vô thực", trên trang điện tử cafef, tác giả đã mô tả lại cuộc sụp đổ của ngân hàng Leman Brother và hậu quả của học thuyết này để lại. Đồng thời bài viết cũng đề cập đến quan điểm của các công ty sau khi đƣợc liệt kê vào quá lớn tại nƣớc Mỹ hiện nay. - Bài viết của tác giả Phƣơng Nga trên trang điện tử Bnews.vn về"Đế chế Zombie: có quá lớn để sụp đổ?", tác giả đề cập việc lo ngại về số ngƣời thất nghiệp và các khoản nợ, nhiều chính phủ và ngân hàng cố gắng níu giữ sự sống cho những 6 công ty không đủ khả năng duy trì hoạt động (công ty “zombie” hay công ty xác sống). Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3.