CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò TTKDTM qua NHTM .1 Khái niệm TTKDTM. Thanh toán, trong mối quan hệ kinh tế được hiểu một cách khái quát là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệ nhất định. Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa dịch vụ hoặc trong việc trả nợ. Tuy nhiên, khi nền kinh tế thế giới phát triển ở mức cao hơn, khi khoa học công nghệ đi vào mọi mặt của đời sống xã hội thì việc lưu thông bằng tiền mặt xuất hiện nhiều hạn chế, Cụ thể: Thứ nhất, với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới, khối lượng hàng hóa, dịch vụ trao đổi ngày càng lớn, việc lưu thông bằng tiền mặt trở lên kém an toàn, thiếu chính xác, mất nhiều thời gian và công sức đã tạo ra chi phí lớn cho xã hội.
Thứ hai, với sự phát triển của khoa học hiện đại, công nghệ làm tiền giả ngày càng tinh vi. Hàng năm, thế giới luôn tốn một khoản ngân sách không nhỏ cho các biện pháp chống nạn tiền giả. Thứ ba, chính phủ khó kiểm soát được lượng tiền mặt trong lưu thông. Do tính chất vô danh và thanh khoản cao, khi tiền mặt đi vào lưu thông chúng ít quay trở lại Ngân hàng nơi chúng được phát hành.
Điều này dễ dẫn đến hiện tượng lạm phát. Thứ tư, các hoạt động phi pháp ngày càng mở rộng và trở lên tinh vi nhờ sự giúp sức của công nghệ hiện đại và ẩn dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt để tránh sự kiểm soát của chính phủ. Trong lúc này, bắt đầu từ thế kỷ XIX, nhờ khoa học công nghệ phát triển không ngừng, chức năng trung gian thanh toán của hệ thống Ngân hàng ngày càng được hoàn thiện đã tạo điều kiện cho sự ra đời một hình thức thanh toán mới - Hình thức TTKDTM mặt dựa trên đồng tiền ghi sổ và phát triển cao hơn là tiền điện tử. Như vậy, TTKDTM ra đời xuất phát từ yêu cầu phát triển vượt bậc của nền 3 kinh tế thế giới, trên cơ sở sự hoàn thiện hoạt động trung gian thanh toán của hệ thống NHTM và khoa học công nghệ.
Chúng khắc phục được nhiều khiếm khuyết của hình thức thanh toán tiền mặt. Do đó, hiện nay trên thế giới, chính phủ các nước đang đẩy mạnh phát triển hình thức TTKDTM và hướng chúng trở thành hình thức thanh toán sử dụng chủ yếu trong tương lai. TTKDTM là cách thức thanh toán trong đó không có sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thực hiện các nghiệp vụ chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của chủ thể phải chi trả đến tài khoản của người thụ hưởng hoặc thanh toán bù trừ thông qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (gọi chung là Ngân hàng) .2 Đặc điểm của TTKDTM Sự ra đời của hình thức TTKDTM gắn liền với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ và sự phát triển của nó gắn với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng. Sự tồn tại và lớn mạnh của hệ thống này đã tạo điều kiện cho các cá nhân và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại các Ngân hàng và thực hiện việc thanh toán thông qua việc chuyển khoản trong hệ thống Ngân hàng.
TTKDTM là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là phương tiện thanh toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ. TTKDTM có những đặc điểm sau: - Trong TTKDTM sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của hàng hóa cả về không gian và thời gian và thường không có sự ăn khớp nhau. TTKDTM sử dụng tiền để chuyển khoản. Như vậy các chủ thể tham gia thanh toán phải mở tài khoản tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Đây là đặc điểm quan trọng và nổi bật của TTKDTM - Trong TTKDTM vật trung gian trao đổi không xuất hiện như trong hình thức thanh toán bằng tiền mặt theo kiểu Hàng – Tiền – Hàng mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng thanh toán là các lệnh thu, chi do người thụ hưởng hay người trả tiền lập ra. Như vậy trong TTKDTM luôn có các chứng từ thanh toán. Đây là đặc điểm riêng của TTKDTM. - Trong TTKDTM, Ngân hàng vừa là người tổ chức, vừa là người thực hiện các khoản thanh khoản thanh toán.
Chỉ có Ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gửi của 4 khách hàng mới được quyền trích chuyển những tài khoản này theo những nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình. Với nghiệp vụ này, Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán đối với khách hàng của mình. Theo đó mỗi nghiệp vụ thanh toán ít nhất phải có 3 bên tham gia ( người trả tiền, Ngân hàng, người thụ hưởng) Với những đặc điểm nêu trên, TTKDTM nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy tác dụng tích cực của nó. Trong tương lai, theo đà phát triển của xã hội và nhu cầu của thị trường, TTKDTM sẽ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế.3 Vai trò của TTKDTM 1.1 Vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế - TTKDTM góp phần giảm tỉ trọng tiền mặt lưu thông, từ đó giảm phí tổn cho xã hội có liên quan đến việc phát hành và lưu thông tiền tệ.
Đó là các chi phí về in ấn tiền, chi phí cho việc kiểm đếm vận chuyển,bảo quản, hủy bỏ tiền cũ tiền rách lưu thông như in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển… - TTKDTM tạo điều kiện tập trung nguồn vốn lớn cho xã hội vào NHTM để tái đầu tư cho nền kinh tế. Mặt khác TTKDTM ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường song chính nó lại trở thành nhân tố thúc đẩy cho nền kinh tế hàng hóa phát triển, nó góp phần đẩy nhanh tốc độ quá trình sản xuất xã hội vì nó liên quan đến toàn bộ quá trình lưu thông hàng hóa, tiền tệ của các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội - TTKDTM tạo điều kiện dễ cho việc kiểm soát lạm phát, kiểm soát khối lượng giao dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế qua đó phát hiện và phòng ngừa kịp thời việc rửa tiền, chống thất thu thuế… Đồng thời, TTKDTM phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước vào hoạt động tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô, điều hành thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả.2 Vai trò của TTKDTM đối với NHTM - TTKDTM giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan. Trên cơ sở đó giúp Ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy tín cho Ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của Ngân hàng trong cơ chế thị trường.
Hoạt động TTKDTM không chỉ là một 5 hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng. Nếu nó được thực hiện tốt thì sẽ góp phần mở rộng các dịch vụ tín dụng, dịch vụ kinh doanh, tăng thu nhập cho Ngân hàng. - TTKDTM tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Khi Ngân hàng tăng được tỷ trọng TTKDTM cũng là lúc Ngân hàng thu hút được nhiều nguồn vốn hơn trong xã hội vào Ngân hàng.
Trên cơ sở nguồn vốn tăng thêm đó Ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng cho vay tăng vốn cho nền kinh tế, đồng thời gia tăng được lợi nhuận. Như vậy TTKDTM vừa góp phần tăng nhanh vòng quay vốn cho xã hội vừa góp phần tăng cường vốn cho xã hội. - TTKDTM đem lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng trong quản lý việc sử dụng vốn vay của khách hàng nếu giải ngân bằng hình thức TTKDTM như: Góp phần thực hiện giảm bớt thủ tục hành chính trong xử lý hồ sơ vay vốn vì nó bớt đi một phần việc đó là công tác quản lý vốn đã được thực hiện trước khi giải ngân, nhờ vậy việc sử dụng vốn sẽ đi đúng địa chỉ, đúng mục đích; Tạo sự minh bạch trong việc quản lý hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn bằng việc Ngân hàng giải ngân theo đúng đối tượng, đúng tiến độ, đúng mục đích sử dụng vốn vay theo hợp đồng tín dụng; tạo điều kiện để đánh giá đúng “ sức khỏe: của khách hàng cũng như hạn chế được được các hệ lụy trong việc sử dụng vốn không đúng mục đích 1.3 Vai trò của TTKDTM đối với khách hàng - TTKDTM góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo sự an toàn về vốn cũng như tài sản của doanh nghiệp tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra trong quá trình thanh toán. - Khi khách hàng tiến hành thanh toán thông qua ngân hàng, khách hàng được hưởng những lợi ích như lãi suất tiền gửi và nhiều ưu đãi khác của ngân hàng.2 Các phương tiện TTKDTM.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 80/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về TTKDTM có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Theo đó, phương tiện TTKDTM sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ Ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.1 Thanh toán bằng séc "Séc" là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng. Séc được dùng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ. hoặc rút tiền mặt.
Séc là phương tiện thanh toán được sử dụng rộng rãi cho mọi khách hàng. Trên thế giới đã có luật séc áp dụng cho nhiều nước và từng nước có qui định riêng.