phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử Chƣơng 2: Thực trạng việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM 123doc 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 hái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 hái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Philip Kotler “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản ph m của nó có thể có hay không g n liền với sản ph m vật chất.” ản thân ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền tệ, thu phí của khách hàng, được x t thuộc nhóm ngành dịch vụ. Hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản ph m cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu của dịch vụ về tiền tệ, về vốn, về thanh toán … cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra các sản ph m dịch vụ trong nền kinh tế.2 hái niệm dịch vụ ngân hàng Trong bảng danh mục phân loại các dịch vụ theo khu vực của WTO thì dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ.
WTO phân loại dịch vụ thành 12 ngành 1. Dịch vụ kinh doanh 2. Dịch vụ liên lạc 3. Dịch vụ xây dựng và thi công.
Dịch vụ phân phối. Dịch vụ giáo dục. Dịch vụ môi trư ng. Dịch vụ tài chính.
Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội. Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành. Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao. Dịch vụ vận tải.
Các dịch vụ khác. Trong dịch vụ tài chính có tất cả dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói chung. Dịch vụ ngân hàng có hai đặc 123doc 5 điểm nổi bật : Thứ nhất, đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Thứ hai, đó là các dịch vụ g n liền với hoạt động ngân hàng. Như vậy, có thể cho rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối,…của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Luật các tổ chức tín dụng tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 đề cập cụm từ: “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm cả 3 nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh l i, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy.
Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tuỳ theo trình độ phát triển của ngân hàng.3 Dịch vụ Ngân hàng điện tử Là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Cụ thể hơn, dịch vụ NHĐT là một hệ thống phần mềm tin học cho ph p khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự). Theo quyết định của Ngân hàng Nhà Nước số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 21 tháng 07 năm 2006, hoạt động ngân hàng điện tử được khái niệm như sau: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản ph m, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”. Nhìn chung, NHĐT được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính, ngân hàng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin.
Điều này cho ph p khách hàng có thể truy nhập từ xa các thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng. Theo hiệp hội phần mềm Việt Nam (VINASA) thì 123doc 6 NHĐT được định nghĩa như một phương thức cung cấp các sản ph m mới và sản ph m truyền thống đến khách hàng thông qua các kênh phân phối điện tử tương tác. Như vậy, NHĐT là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính, ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử. NHĐT khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin và viễn thông tạo ra các phương tiện, mô thức giao tiếp mới giữa ngân hàng và khách hàng, bổ sung cho phương tiên, mô thức giao tiếp truyền thống dựa vào mạng lưới chi nhánh và quầy giao dịch.
Sau nhiều nghiên cứu và ứng dụng, hiện nay tại các ngân hàng thương mại hình thành các dịch vụ NHĐT sau: 1.1 Call center Các Call center xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. Call center được hiểu theo nghĩa thông thư ng là “trạm hoặc trung tâm liên lạc nơi khách hàng gọi (điện thoại) đến để hỏi thông tin cần biết hoặc để giao dịch”. Call center là dịch vụ ngân hàng được thực hiện thông qua điện thoại với nhiệm vụ cung cấp các sản ph m, dịch vụ ngân hàng. Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn có thể gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm để được cung cấp mọi thông tin chung và thông tin cá nhân.
Call center có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả l i các th c m c của khách hàng thông qua nhân viên tổng đài. Tuy vậy, nhược điểm của Call center là phải có ngư i trực 24/24. Tại Việt Nam, một số ngư i đã quen với dịch vụ gọi số 108 hay 1080 để hỏi các thông tin như địa chỉ cơ quan, thông tin về doanh nghiệp, về tỷ giá hối đoái, dự báo th i tiết, các chương trình ca nhạc… Đây có thể xem là Call center dạng truyền thống, tuy nội dung và chất lượng dịch vụ còn hạn chế.2 Phone banking Đây là loại sản ph m cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động. Do tự động nên các thông tin được ấn định trước, thông thư ng bao gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê các giao dịch gần nhất, các thông báo mới nhất…Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên.3 Mobile banking Đây là dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile Banking Service), dịch vụ mà ngân hàng cung cấp phương thức thanh toán trực tuyến, thông tin về tài 123doc 7 khoản và các thông tin khác bằng hình thức tin nh n gửi đến từ các thuê bao điện thoại của khách hàng thông qua mạng điện thoại di động đến số tổng đài của nhà cung cấp hoặc các phần mềm.
Phương thức này ra đ i nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ hoặc những dịch vụ tự động không có ngư i phục vụ.4 Home banking Home banking là kênh phân phối dịch vụ của NHĐT cho ph p khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng. Dịch vụ Home banking được thực hiện thông qua mạng nội bộ (intranet), được ngân hàng xây dựng riêng, vì thế có tính bảo mật cao. Các giao dịch được tiến hành tại nhà, tại văn phòng, công ty thông qua hệ thống máy vi tính của khách hàng kết nối với hệ thống máy vi tính của ngân hàng. Home banking được xây dựng dựa trên một trong hai nền tảng: hệ thống các phần mềm ứng dụng và nền tảng công nghệ.
Thông qua hệ thống máy chủ, mạng internet và máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mã hóa, trao đổi và xác nhận giữa ngân hàng và khách hàng.5 Internet banking Internet banking là dịch vụ cung cấp tự động các thông tin về sản ph m và dịch vụ ngân hàng thông qua đư ng truyền internet. Với máy tính kết nối internet, d ở bất cứ nơi đâu hay vào bất cứ th i điểm nào, khách hàng cũng có thể truy cập vào trang web của ngân hàng để được cung cấp thông tin, được hướng dẫn về dịch vụ ngân hàng và thực hiện các giao dịch theo nhu cầu. Khách hàng có thể truy cập vào các trang web khác để mua hàng và thực hiện thanh toán thông qua ngân hàng. Hơn nữa, Internet banking là một kênh phản hồi thông tin hiệu quả giữa khách hàng và ngân hàng.
Mọi th c m c, góp ý với ngân hàng có thể được thực hiện và được ngân hàng phản hồi một cách nhanh chóng. Có thể nói, Internet banking là một kênh phân phối rộng các sản ph m và dịch vụ ngân hàng đến khách hàng. Tuy nhiên, khác với các dịch vụ NHĐT khác, Internet banking đòi hỏi ngân hàng phải có một hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với các rủi ro an ninh mạng trên phạm vi toàn cầu.6 iosk điện tử ngân hàng Là sự phát triển của dịch vụ ngân hàng hướng tới việc phục vụ khách hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất. Trên đư ng phố sẽ đặt các trạm làm việc với đư ng kết nối Internet tốc độ cao.
Khi khách hàng cần thực hiện giao dịch hoặc yêu 123doc 8 cầu dịch vụ, họ chỉ cần truy cập, cung cấp số chứng minh nhân dân và mật kh u để sử dụng dịch vụ của hệ thống ngân hàng phục vụ mình.