CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ GIA SẢN TAI TỔ CHỨC TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ GIA SẢN 1. Khái niệm về hoạt động quản lý gia sản Quản lý gia sản (Wealth management) là loại hình dịch vụ tài chính cá nhân xuất hiện từ những năm 1990, được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty bảo hiểm và ngân hàng đầu tư cho các tầng lớp cá nhân có thu nhập cao của xã hội. Các tổ chức tài chính này cung cấp chuỗi dịch vụ khép kín cho vòng đời của một con người, thậm chí của cả một gia tộc bao gồm quản lý thu nhập- chi phí, tư vấn lập kế hoạch tài chính, đầu tư, bảo hiểm, hưu trí, thừa kế và quản lý thuế.
Trong lĩnh vực tư vấn tài chính nói chung, thường xuất hiện hai thuật ngữ gây nhầm lẫn cho nhà đầu tư: Quản lý tài sản và Quản lý gia sản. Quản lý tài sản là một khái niệm được hiểu khá rộng, đề cập đến việc giám sát của bất kỳ hệ thống nào áp dụng cho tài sản vô hình hoặc hữu hình. Dưới góc độ pháp lý, quản lý tài sản được hiểu như là việc trông coi và giữ gìn tài sản, bảo đảm cho tài sản không bị mất mát, hao hụt trừ những hao mòn tự nhiên. Phạm vi điều chỉnh pháp luật về quản lý tài sản rất rộng, được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 và trong luật riêng là Luật quản lý sử dụng tài sản công năm 2017 quy định riêng về lĩnh vực quản lý tài sản công.
Theo bộ luật dân sự 2015 và Luật quản lý sử dụng tài sản công năm 2017, có thể hiểu khái niệm quản lý tài sản dưới góc độ tài chính như sau: “quản lý tài sản là dịch vụ tài chính trong đó các công ty cung cấp dịch vụ tài chính sẽ chỉ tham gia vào hoạt động quản lý tài sản và danh mục đầu tư cho cá nhân hướng tới mục tiêu tối đa hoá danh mục đầu tư cho họ” (Trần Thị Xuân Anh và Ngô Thị Hằng, 2018) Với khái niệm đó, quản lý gia sản cung cấp chuỗi dịch vụ tài chính đa dạng, được tích hợp đối với mọi nhu cầu về tài chính và liên quan tới các khía cạnh khác nhau trong vòng đời của một cá nhân cũng như một gia tộc. Do đó, quản lý gia sản là một khái niệm rộng hơn, bao gồm trong đó cả quản lý tài sản. Nói cách khác, quản lý tài sản chỉ là một bộ phận, một loại hình dịch vụ đầu tư trong quản lý gia sản khách hàng cá nhân. (Trần Thị Xuân Anh và Ngô Thị Hằng, 2018) 9 Các tài sản được quản lý được đề cập đến ở trên bao gồm những tài sản là: giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, bất động sản, bảo hiểm.
Ngoài những tài sản được đề cập, các dịch vụ về tài chính bao gồm: quản lí dòng tiền, tư vấn lập kế hoạch tài chính cho phần tiết tiệm kiệm, xây dựng và quản lý danh mục đầu tư, kế hoạch bảo hiểm nhân thọ, kế hoạch hưu trí, kế hoạch thừa kế và quản lý thuế, Từ những khái niệm trên, có thể hiểu, hoạt động quản lý gia sản cung cấp chuỗi dịch vụ tài chính đa dạng, được tích hợp đối với mọi nhu cầu về tài chính và liên quan tới các khía cạnh khác nhau trong vòng đời của một cá nhân cũng như một gia tộc. Do đó, quản lý gia sản là một khái niệm rộng hơn, bao gồm trong đó cả quản lý tài sản. Nói cách khác, quản lý tài sản chỉ là một bộ phận, một loại hình dịch vụ đầu tư trong quản lý gia sản khách hàng cá nhân. Đặc điểm hoạt động quản lý gia sản của các tổ chức tài chính Hoạt động quản lý gia sản có những đặc điểm riêng, thể hiện sự khác biệt so với các loại hình quản lý đầu tư khác, đặc biệt là loại hình quản lý tài sản, bằng phương pháp so và nghiên cứu , tác giả đã tổng hợp và đưa ra kết quả cụ thể như sau: - Đối tượng khách hàng: Là các cá nhân và gia đình có giá trị tài sản từ trung bình đến cao.
Khác với quản lý tài sản, chỉ tập trung vào mỗi lượng khách hàng cá nhân, quản lý gia sản được mở rộng ra và có thể cung cấp các dịch vụ đầu tư của mình đến với các gia đình, mở rộng hơn nữa có thể tới cả họ hàng của khách hàng đó (Ben Geier, 2023) - Các sản phẩm mà hoạt động cung cấp: Hoạt động quản lý tài sản là các hoạt động tập trung vào đầu tư, bao gồm dịch vụ quản lý danh mục đầu tư, tư vấn các sản phẩm riêng lẻ, lập kế hoạch về thuế. Mặt khác, hoạt động quản lý gia sản không chỉ bao gồm các hoạt động về quản lý tài sản, mà còn mở rộng ra các dịch vụ khác như lập kế hoạch tài chính trọn đòi, kế hoạch hưu trí, kế hoạch đầu tư bất động sản, tư vấn thuế, kế hoạch thừa kế, …(Mạc Quang Huy, 2009) - Mục tiêu và triết lý đầu tư: Khác với hoạt động quản lý tài sản, quản lý gia sản không sử dụng phương pháp đầu tư tập trung vào lợi nhuận, phân bổ tài sản và quản lý rủi ro. Mà hoạt động 10 quản lý gia sản sẽ linh hoạt hơn trong việc áp dụng các phương pháp đầu tư khác nhau, bao gồm cả đầu tư theo giá trị, đầu tư theo xu hướng, …đề phù hợp với mục và nhu cầu cụ thể của từng gia đình. Hơn nữa, hoạt động quản lý gia sản sẽ tập trung vào việc bảo vệ tài sản, đảm bảo thu nhận hưu trí và truyền thừa tài sản cho thế hệ sau (Ben Geier, 2023) - Các dịch vụ hoạt động quản lý gia sản cung cấp có chính sách riêng về giá, phí tương đối cao hơn so với các hình thức quản lý đầu tư khác: Trong khi các dịch vụ mà hoạt động quản lý tài sản tập trung vào thu phí tư vấn, các nhà quản lý tài sản được chi trả hoa hồng dựa trên giá trị từng giao dịch hoặc thậm chí có những dịch vụ tư vấn miễn phí, hoạt động quản lý gia sản thông thường sẽ được hưởng phí quản lý trên tổng giá trị gia sản quản lý, hoặc phí quản lý cố định và cả hoa hồng dựa trên giá trị từng giao dịch.
Thông thường, các nhà quản lý gia sản sẽ có tổng giá trị tài sản quản lý cao hơn so với các nhà quản lý tài sản thông thường, các tổ chức tài chính sẽ tính khoảng 1% trên tổng giá trị tài sản quản lý này và có những tổ chức sẽ tính thêm cả những khoản phí cố định. (Mạc Quang Huy, 2009) - Khung pháp lý cho hoạt động quản lý gia sản chặt chẽ hơn so với các loại hình quản lý đầu tư khác. Hoạt động quản lý gia sản được coi là mảng kinh doanh có mức độ rủi ro thấp trong các hoạt động của các tổ chức tài chính do không sử dụng vốn kinh doanh của tổ chức tài chính đó. Tuy nhiên, hoạt động quản lý gia sản lại tiềm ẩn nhiều rủi ro hoạt động, cụ thể là rủi ro rửa tiền và rủi ro gian lận, chính vì vậy các cơ quan quản lý giám sát thị trường luôn đặt mảng hoạt động này trong sự giảm sát chặt chẽ.
Cụ thể, quy định của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng hiện tập trung đặc biệt đến “quản lý tài sản cho người giàu có” vì họ muốn đảm bảo rằng các công ty quản lý gia sản phải xây dựng văn hóa tuân thủ và cơ cấu giám sát tại chỗ để thực thi khung pháp lý về quản lý gia sản. Ngoài ra, các sản phẩm đầu tư ngày càng chịu quy định pháp lý chặt chẽ, bao gồm các sản phẩm cấu trúc tài chính, sản phẩm phái sinh … Các nhà giám sát thị trường cũng đang tập trung vào việc giảm thiểu các xung đột 11 giữa nhà quản lý gia sản và khách hàng thông qua các quy định khắt khe hơn về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp (Trần Thị Xuân Anh và Ngô Thị Hằng, 2018) 1. Các hình thức quản lý gia sản Theo Mạc Quang Huy (2009), tác giả đã phân chia các hình thức quản lý gia sản thành hai dạng cơ bản, cụ thể như sau: - Tư vấn đầu tư (Advisory) Là việc ngân hàng đầu tư cung cấp tư vấn đầu tư cho khách hàng và các khách hàng sẽ tự quyết định từng giao dịch đầu tư cụ thể cũng như toàn thể danh mục đầu tư của khách hàng. Vai trò của ngân hàng đầu tư khá thấp và chỉ dừng lại ở việc cung cấp tư vấn.
Thông thường các tư vấn này là miễn phí song ngân hàng sẽ hưởng phí hoa hồng đối với từng giao dịch của khách hàng. Mô hình tư vấn đầu tư thường áp dụng cho các khách hàng có kiến thức và kinh nghiệm đầu tư. Bên cạnh đó, mô hình tư vấn đầu tư phù hợp với những khách hàng đang sở hữu lượng vốn lớn trong danh mục đầu tư, bởi việc đưa ra các quyết định thông qua mô hình ủy thác đầu tư có thể tạo nên việc mất kiểm soát trong việc đầu tư, khiến khách hàng chịu những khoản thuế không đáng có. Tuy vậy, loại hình tư vấn đầu tư có hạn chế do mỗi khi nhà tư vấn đầu tư đưa ra một quyết định về danh mục, việc phải giao tiếp với khách hàng có thể gây ra sự chậm trễ trong việc đưa ra các quyết định đầu tư, gây ảnh hưởng trực tiếp lên danh mục của người nhận dịch vụ tư vấn đầu tư.
(James Chen, 2021) - Ủy thác quản lý danh mục (Discretionary) Là việc khách hàng ủy quyền quản lý và đầu tư toàn bộ danh mục tài sản cho ngân hàng đầu tư theo các tiêu chí thỏa thuận. Ngân hàng đầu tư có vai trò chủ động hơn trong việc thực hiện phân bổ cơ cấu tài sản và thực hiện giao dịch trong một giới hạn nhất định. Điều này tất nhiên không có nghĩa là khách hàng mất quyền kiểm soát đối với danh mục đầu tư của họ. Chuyên gia tư vấn vẫn thường xuyên tham khảo khách hàng về các quyết định đầu tư mà họ dự định tiến hành nhằm mang lại sự hài lòng của khách hàng.
Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do nào đó mà việc tham khảo khách hàng không thực hiện được thì ngân hàng đầu tư sẽ vẫn chủ động thực hiện các 12 giao dịch vì quyền lợi của khách hàng trong giới hạn ủy quyền mà họ được phép.