CHƯƠNG 1: SỰ CAN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN HUYỆN CU CHI 1. Tín dung và quan hệ tín dụng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn. Tinh tất yếu của tín dụng và quan hệ tín dụng trong nền kinh tế. Tín dụng là một phạm trù kinh tế, gắn lién với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá, vì vậy trong nền kinh tế hàng hoá tín dụng tổn tại và phát triển là một tất yếu khách quan và cẩn thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Diéu này được quyết định bởi đặc điểm sản xuất hàng hoá, bởi sự phát triển của chức năng tién tệ làm phương tiện thanh toán. Quan hệ tín dụng xuất hiện bắt nguồn từ việc chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp, hộ dân. Trong từng thời điểm, thường xuyên có một bộ phận vốn nhàn rỗi cẩn được sử dụng để sinh lời. Trong mỗi thời điểm nhất định có một số doanh nghiệp, cá nhân có vốn dùng để sản xuất, tiêu ding nhưng chưa sử dụng đến.
Nhưng một số doanh nghiệp, cá nhân khác muốn có vốn để sản xuất, tiêu dùng nhưng lại chưa tích luỹ kịp. Như vậy, cùng trong một thời điểm, nơi thì có vốn nhưng chưa sử dụng, nơi thì cần vốn nhưng lại chưa có. Quan hệ tín dụng ra đời nhằm giải quyết nhu cầu trên. Vì vậy, xã hội nào có sản xuất hàng hoá thì ở đó tất yếu có hoạt động tín dụng.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển mạnh mẽ nên quan hệ cung - cầu về vốn cũng phát triển nhanh nhằm đáp ứng nhu cẩu tiết kiệm và đẩu tư vé vốn. Lúc này, Nhà nước, các doanh nghiệp, các hộ gia đình, các tổ chức xã hội, các tổ chức tài chính đều có thể ở vị trí là người sở hữu hay người sử dụng vốn (cung hay câu vé vốn). Cung vé vốn khi họ có khả năng về tài chính, khi mà thu nhập của họ lớn hơn chỉ tiêu, họ có tiết kiệm. Tiết kiệm chưa dùng tới có thể cung ra thị trường nhường quyển sử 2⁄22.
Lb The Fam 4 dụng vốn cho người khác. Cầu về vốn khi nhu cầu chi tiêu của họ lớn hơn thu nhập. Lúc này họ có thể kiếm vốn trên thị trường bằng cách đi vay trực tiếp người có vốn hoặc các tổ chức tín dụng trung gian, hoặc gọi vốn trực tiếp trên thị trường bằng cách phát hành chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,. Như vậy, trong cơ chế thị trường can phải có sự giao lưu vốn giữa những người cẩn vốn và những người có vốn.
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động của tín dụng là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được. Đối với nền kinh tế những nước đang trong quá trình CNH - HĐH thì nhu cầu về vốn rất cao. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nghiên cứu khoa học — thực nghiệm, chuyển giao công nghệ,. đều rất thiếu.
Trong khi thị trường tài chính mới ở giai đoạn đầu. Khi thị trường chứng khoán dang được hình thành va phát triển thì vai trò cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế sẽ chiếm vị trí quan trọng trong việc đáp ứng cung cầu về vốn của nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế nước ta hiện nay, đặc biệt là khu vực nông nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng để phát triển kinh tế. Nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh của người dân rất cao, có thể nói thiếu vốn là nguyên nhân hàng đầu cản trở sự mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và tăng thu nhập ở nông thôn.
Vì vậy, vốn tín dụng có vai trò quan trọng trong việc bổ sung sự thiếu hụt vốn nhằm phát triển nông nghiệp và nông thôn. Để người dân tiếp thu được khoa học — kỹ thuật, đa dạng hoá ngành nghề, mở rộng sản xuất thì cần phải có nguồn vốn kịp thời. Tính tất yếu của tín dụng và quan hệ tín dụng trong nền kinh tế còn được thể hiện qua vai trò của nó đối với hộ nông dân. Vai trò to lớn của vốn tín dụng với nông nghiệp nông thôn được thể hiện ở những điểm sau : - Vốn tín dụng đáp ứng yêu cầu đầu tư thâm canh giúp tăng sản lượng nông nghiệp.
tăng năng xuất cây trồng, vật nuôi. Từ đó, tăng thu nhập cho hộ nông dân. - Vốn tín dụng góp phần tạo ra trang thiết bị máy móc, tài sản cố định để 1⁄22: Lb Thi Tim 5 nâng cao năng lực sản xuất cho các trang trại, nông hộ. Tạo tién để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nông đân.
- Vốn tín dụng rất quan trọng trong việc đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn, khôi phục và phát triển ngành nghề truyén thống, đa dạng hoá nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH. - Vốn tín dụng góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như : xây đựng đường sá, cầu cống, kiên cố hoá kênh mương,. Trong điều kiện vốn đầu tư cơ bản của ngân sách Nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn còn ít thì vốn đầu tư qua con đường tín dụng ngày càng có ý nghĩa quan trọng và giữ vị trí chủ yếu hơn. - Vốn tín dụng thúc đẩy sự lựa chọn kỹ thuật mới của người nông dân, tạo cơ hội cho cho người nông dân tiếp cận và 4p dụng kỹ thuật mới vào sản xuất.
Nhằm góp phần vào sự thành công của quá trình CNH, HĐH nồng nghiệp - nông thôn. - Vốn tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với hộ nghèo, vì đây là cơ hội để họ thoát nghèo, tạo ra cơ sở sản xuất ban đầu nhằm mang lại thu nhập cho gia đình. - Vốn tin dụng góp phân giải quyết việc làm cho những lao động nông nghiệp dư thừa ở nông thôn, từ đó góp phần vào việc giải quyết được các vấn để xã hội khác ở nông thôn. Với vai trò to lớn đó, tín dụng đang góp phần vào sự thắng lợi của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn Việt Nam.
Củ Chi là huyện nông nghiệp ngoại thành của một thành phố lớn nên có điểu kiện hơn để tin dụng phát huy hết vai trò của mình trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. 1⁄2: Lb Thi Fam 6 1. Bản chất và các hình thức của quan hệ tín dụng trong trong nền kinh tế. Tín dụng là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là hình thức vận động của vốn cho vay.
Tín dung ra đời rất sớm và tổn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Đến nay, các nhà kinh tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau vé tín dụng. Có người cho rằng : tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có vay có trả. Một số các nhà kinh tế khác lại quan niệm tín dụng là phạm trù kinh tế hàng hoá phan ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các tác nhân và thể nhân trong nền kinh tế.
Tác giả Lê Văn Té và Ngô Hướng lại định nghĩa tín dụng là sự vận động đơn phương của giá trị từ người cho vay sang người di vay và sẽ quay về với người cho vay cả vốn và lãi trong một kỳ hạn xác định nào đó[30, tr. Như vậy, tín dụng là sự vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn lẫn lời sau một thời gian nhất định. Các Mác đã viết về bản chất của tín dụng như sau : “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiển không phải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay. Tiển chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay trở vé điểm xuất phát sau kỳ hạn nhất định" { 20, tr.
Đổng thời, Các Mác cũng vạch rõ yêu cầu của việc tién quay về điểm xuất phát là cần phải “ vẫn giữ nguyên được giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận động "{20, tr. Tín dung được thực hiện qua quan hệ giữa người có vốn và người cin vốn gọi là quan hệ tín dụng. Quan hệ tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức. Bản chất của tín dụng thể hiện ở các phương diện sau : Thứ nhất, người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định.
Lúc này, vốn được chuyển từ người cho vay sang người vay. Thứ hai, sau khi nhận SVIR | Lb Ths Fam 7 27: Bai Fhe 26a Hihot butn tid nghitps được vốn tin dụng, người đi vay được quyền sử dung để thoả mãn mục đích nhất định. Thứ ba, đến thời hạn do hai bên thoả thuận, người vay hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn vay ban đầu. Phần tăng thêm này được gọi là tiền lãi.
Quan hệ tín dụng được hiểu một cách chung nhất là quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức[ 13, tr. Trong quan hệ tín dụng, người cho vay chỉ nhường quyển sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, người đi vay phải hoàn trả lại vốn và lãi người cho vay khi đến thời hạn thoả thuận. Quá trình vận động này mang tính chất hoàn trả của tín dụng, là biểu hiện đặc trưng nhất để phân biệt sự khác nhau giữa quan hệ tín dụng với quan hệ kinh tế khác.
Bản chất quan hệ tín dụng thể hiện ở sự chuyển địch vốn từ người này sang người khác. Đây là sự chuyển dịch đơn phương của một lượng giá trị, tạm thời tách rời quyên sở hữu, quyền sử dụng và lượng giá trị quay trở vé điểm xuất phát ban đầu sau một thời gian nhất định. Quan hệ tin dung dù vận động trong phương thức sản xuất nào, đối tượng vay là hàng hoá hay tiền tệ thì cũng mang 3 đặc điểm cơ bản sau: e Chi thay đổi quyển sử dụng mà không thay đổi quyển sở hữu vốn. © Có thời han được xác định do sự thoả thuận giữa người cho vay và người đi vay.
e Người sở hữu tín dụng được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức. Quan hệ tín dụng được thể hiện rõ qua 3 giai đoạn : phân phối vốn, sử dụng vốn và hoàn trả vốn .