Chương 1 ĐẶT VAN DE 1. Su Cần Thiết Của Dé Tài Năm 2004, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 361,4 nghìn tỷ đồng, ước tăng 7,6% so với năm 2003. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,3%. Bên cạnh đó thì sản lượng lương thực có hạt đạt 39,1 triệu tan, mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 4,2% so với năm 2003.
Sản xuất lúa chuyển mạnh theo hướng: giảm dần diện tích, tăng năng suất và chất lượng lúa gạo đề phù hợp yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu gạo. Chăn nuôi cũng chuyên mạnh sang sản xuất hàng hóa rỏ hơn, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng các đàn gia súc, gia cầm có nhiều thay đổi. Có thé nói năm 2004 là một năm mà nền kinh tế nước ta có xu hướng tăng trưởng khá 6n định, là năm mà có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng bay năm qua ( năm 1998 tăng 5,57%; năm 1999 tăng 4,77%; năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng 6,89%; năm 2002 tăng 7,08%; năm 2003 tăng 7,26%). Trong bối cảnh khó khăn về nhiều mặt, tốc độ tăng trưởng của năm 2004 là thành tựu đáng ghi nhận.
Đề đạt được những thành tựu đáng ghi nhận ấy ngoài né lực to lớn của toàn Đảng toàn dân .thì NHNo&PTNT Việt Nam cũng đã góp phan không nhỏ vào những thành tựu này. Hiện nay gần 80% dân số nước ta là nông dân, nên vai trò của ngành nông nghiệp có vị trí rất quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước. Từ một nước có nền nông nghiệp tự cung tự cấp, yếu kém. đến nay nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới và có nhiều mặt hàng nông sản chủ lực như: chè, cà phê, thủy sản.có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, Việt Nam đang tập trung day mạnh quá trình CNH-HĐH đất nước, mà trước hết là quá trình CNH-HDH nông nghiệp và nông thôn. Mà dé làm được điều này thì NHNo&PTNT phải có vai trò hêt sức quan trọng trong vân đê huy động vôn, cho vay.đôi với ngành nông lâm ngư nghiệp của nước ta. Bởi vì nhu cầu vốn cho khu vực này là rất lớn và người dân lại gập nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, nhiều hộ không vay được vốn, nhiều hộ vay không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất .Nên xuất hiện tình trạng cho vay nặng lãi, đầu tư không đúng mức gây ra không hiệu quả .Ngoài ra sản xuất nông nghiệp luôn gập rủi ro lớn về thiên tai, dịch bệnh, thị trường tiêu thụ chưa tìm được đầu ra .,nên đời sống của người dân đã khó khăn nay còn khó khăn hơn. Do đó một lần nửa có thể nói NHNo&PTNT có vai trò hết sức là quan trọng, sự thành công và hoạt động có hiệu quả của NHNo&PTNT cũng chính là một động lực to lớn cho sự thúc day quá trình CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn, góp phan to lớn trong việc hồ trợ vốn cho người dân, giúp người dân mạnh dạn đầu tư sản xuất, thay đồi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng các thành tựu khoa học kỷ thuật vào sản xuất nông nghiệp ., từ đó nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần thu hẹp sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn va day mạnh sự tăng trưởng cũng như là sự phát triển kinh tế của đất nước.
Đưa kinh tế nông hộ thoát khỏi nghèo khó, vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động, đời sống người dân được cải thiện, nền sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyền biến tích cực, xuất hiện nhiều loại hình sản xuất với những qui mô khác nhau .thì hoạt động tín dụng nông thôn còn nhiều yếu tố rủi ro khách quan và chủ quan không thé lường trước được, khó khăn trong việc xác định mức cho vay đối với từng đối tượng vay, khó khăn trong việc thâm định cho vay ., từ đó đã gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động đầu tư vốn của ngân hàng. Nhưng với xu hướng tăng trưởng và ôn định trong sản xuất nông nghiệp với đối tượng chính là hộ nông dân, để kịp thời đáp ứng nguồn vốn cho bà con nông dân trong việc sản xuất đòi hỏi hoạt động của ngành ngân hàng phải luôn luôn tự đổi mới, cải cách phương thức hoạt động, từng bước hoàn thiện hơn nửa nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu trong sản xuất nông nghiệp của nông dân, góp phần vào việc hoàn thành sự nghiệp CNH-HĐH nền kinh tế nước nhà. Xuất phát từ tình hình thực tế trên cùng với sự phân công của khoa kinh tế Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và sự chấp thuận của Ban Giam Đốc Chi Nhánh NHNo&PTNT Huyện Trảng Bàng -Tỉnh Tây Ninh.
Tôi tiến hành chọn đề tài“Phân Tích Hoạt Động Tín Dụng Đối Với Hộ Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Chi Nhánh NHNo& PTNT Huyện Trang Bàng —Tinh Tây Ninh”. Mục Tiêu Nghiên Cứu Phân tích tình hình hoạt động và đánh giá công tác tín dụng của NHNo&PTNT Huyện Trảng Bàng qua ba năm 2002-2003-2004. Xác định nhu cầu vay vốn cũng như là phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời đánh giá khả năng đáp ứng vốn vay của ngân hàng dành cho hộ sản xuất và qua đó cũng dé phân tích nhu cầu vốn sản xuất đối với ba mô hình: trồng lúa, nuôi heo, nuôi bò. Đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay của NHNo&PTNT Huyện Trảng Bàng đối với hộ sản xuất nông nghiệp.
Phạm Vi Và Thời Gian Nghiên Cứu. Phạm vi nghiên cứu: + Phân tích hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Trảng Bàng-Tỉnh Tây Ninh bao gồm: hoạt động huy động vốn, cho vay, thu nợ, dư nợ, nợ quá hạn. + Phân tích nhu cầu vay vốn của người dân, phân tích hiệu quả của đồng vốn vay mà người dân có được. Thời gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện từ ngày 01/03/2005 đến ngày 30/06/2005.
Cau Trúc Luận Văn Tốt Nghiệp. Chương |: Đặt Van Dé Chương 2: Cơ Sở Ly Luận Va Phương Pháp Nghiên Cứu Chương 3: Tổng Quan Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Và Thảo Luận Chương 5: Kết Luận Và Kiến Nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Những Vấn Đề Cơ Bản Về Tín Dụng Ngân Hàng 2. Khái Niệm Về Tín Dụng Có rất nhiều khái niệm về tín dụng, nhưng về cơ bản tín dụng được xuất phát từ chữ la tinh credo có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm.
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó bên cho vay chuyển giao tai san cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. Các Nguyên Tắc Tín Dụng + Nguyên tắc thứ nhất: vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cho vay đúng mục dich là việc cung cấp vốn phù hợp với đối tượng sản xuất kinh doanh thực sự của khách hàng.
Khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn, ngân hàng phải nắm rỏ mục đích vay vốn của khách hàng. Khi khách hàng nộp giấy đề nghị vay vốn, phải có mục đích sử dụng vốn vay rỏ ràng hợp pháp, kèm theo phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Trong quá trình cho vay, ngân hàng sẽ thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích không, nếu phát hiện việc sử dụng vốn của khách hàng không đúng mục đích, ngân hàng có quyên thu hồi nợ trước hạn. + Nguyên tắc thứ hai: vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho các ngân hàng phát triển một cách bền vững. Bởi gì nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, đó là một bộ phận tài sản của khách hàng mà ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng. Ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng khi họ yêu cầu, hoặc khi đến hạn thanh toán. Do đó nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn thí nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng.
Các Loại Tín Dụng Ngân Hàng 2. Căn Cứ Vào Mục Đích Tín Dụng Tín dụng tiêu dùng: nhằm tài trợ cho nhu cầu chỉ tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người này trang trãi nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ .Bên cạnh đó, những chỉ tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch., cũng có thể tài trợ bởi cho vay tiêu dùng. Tín dụng bất động sản: để tài trợ cho việc mua sắm và xây dựng bắt động sản nhà ở ,đất đai, bất động san trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dich vu.
Tin dụng nông nghiệp: là loại cho vay dé trang trai các chi phi sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu. Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn dé bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vữc công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Cho thuê tài chính: là hình thức tín dụng trung dài hạn để thỏa mãn nhu cầu trang bị tài sản chủ yếu máy móc, thiết bị đối với doanh nghiệp. Theo Hình Thức Đảm Bảo Nợ Tin dụng không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thé chấp, cầm có hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thé cấp tin dụng dựa vào uy tin của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung (bảo đảm tín dụng). Tín dung có dam bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thé chap hoặc câm cô, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba.