đặt vấn đề cấp bách trong việc xem xét những lập luận trừu tƣợng, tƣ biện về đời sống sinh hoạt của con ngƣời có nội dung khách quan hay không, mà cho rằng, bản thân đời sống sinh hoạt của con ngƣời vốn mang tính hiện thực. Hoạt động cơ bản của con ngƣời là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của những cá nhân nắm quyền làm chủ tƣ liệu sản xuất nhất định, hoạt động trong khuôn khổ của những quan hệ sản xuất và giao tiếp nhất định. Vì vậy, các khái niệm đó dù có trừu tƣợng, tƣ biện nhƣng đó là những khái niệm phản ánh hoạt động, sinh hoạt của hiện thực, phản ánh hoạt động sản xuất của con ngƣời, nên nó tất yếu cũng mang tính khách quan.Ăngghen thì hiện thực bao giờ cũng mang tính đặc thù, nhiệm vụ của nhận thức là đạt tới và phản ánh đúng tính cụ thể, đặc thù đó. Những lập luận trừu tƣợng về con ngƣời, về hoạt động của con ngƣời thực chất chỉ là phƣơng tiện, công cụ để nhằm giải quyết nhiệm vụ đó.
Nhƣng để có đƣợc các lập luận đó một cách đúng đắn thì phải xem xét trong những trƣờng hợp cụ thể với những quan hệ cấu thành cơ sở hiện thực của chúng. Vì vậy, khi xem xét con ngƣời phải xuất phát từ chính những con ngƣời với tƣ cách là những “cá nhân kinh nghiệm”, những cá nhân trong đời sống sinh hoạt trong quan hệ hiện thực của xã hội nhất định. Trong Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã khẳng định: “bản chất con ngƣời không phải là một cái trừu tƣợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hoà những quan hệ xã hội” [45, 11].
Từ đó đến nay, luận điểm nổi tiếng ấy của C.Mác đã trở thành cơ sở lý luận khoa học cho chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xem xét giải quyết vấn đề con ngƣời. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để đƣa ra đƣợc luận điểm ngắn gọn, súc tích này, C.Mác đã phải trải qua một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và hết sức tỉ mỉ. Khi tiếp thu những thành tựu triết học, trực tiếp là triết học cổ điển Đức, C.Mác đã nhận ra sai lầm của Hêghen và Phoiơbắc về vấn đề bản chất con ngƣời.Mác đã phê phán quan điểm duy tâm tƣ biện của Hêghen về con ngƣời, khi Hêghen coi con ngƣời là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”.Mác cũng đã nhận rõ tính chất siêu hình trong quan niệm của Phoiơbắc, khi Phoiơbắc đồng nhất tính sinh học vào bản chất con ngƣời, tách con ngƣời ra khỏi đời sống xã hội, hòa tan bản chất con ngƣời vào bản chất tôn giáo và do đó đã không thấy hoạt động tích cực của con ngƣời là hoạt động thực tiễn, mà chỉ coi “hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con ngƣời”.Mác chỉ rõ: “Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đƣa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều đƣợc giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con ngƣời và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [45, 12].
Hơn nữa, khi nhấn mạnh vai trò to lớn của thực tiễn, C.Mác đã khẳng định: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” [45, 12]. Cần lƣu ý rằng, cải tạo thế giới theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không hề là một quan điểm cực đoan nhƣ sau này có ngƣời cố tình giải thích. Ngay cả với giới tự nhiên, C.Ăngghen cũng có những tƣ tƣởng rất gần với quan điểm hiện đại về bảo vệ môi sinh. Có thể xem đây là một “định nghĩa” về con ngƣời, nhƣng cần phải giải thích rõ một số điểm quan trọng.
Cụ thể, phải giải thích rõ: - “trong tính hiện thực” của nó (của bản chất con ngƣời) có nghĩa là gì; - “quan hệ xã hội” là gì, và nhất là phải hiểu thế nào là “tổng hòa những quan hệ xã hội”.Mác không giải thích những điểm này trong Luận cương. Song cần thấy rằng, tƣ tƣởng về bản chất con ngƣời ở đây liên quan mật thiết với quan điểm của ông về bản chất con ngƣời, về cá nhân con ngƣời, về con ngƣời nói chung và về xã hội trong các tác phẩm trƣớc kia của ông, nhất là trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 và trong Gia đình thần thánh. Nó là sự phát triển hơn chính những quan điểm ấy. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân tích cụ thể luận điểm này cho thấy, C.Mác đòi hỏi trƣớc hết phải hiểu bản chất con ngƣời trong tính hiện thực của nó, nghĩa là trong mọi tồn tại, sinh hoạt, quan hệ hiện thực của nó, nhất là trong hoạt động lao động sản xuất vật chất; phải từ chính những sinh hoạt hiện thực ấy của con ngƣời mà chỉ ra, xác định bản chất của con ngƣời.
Đây chính là quan điểm lịch sử cơ bản, quan điểm duy vật trong xem xét bản chất con ngƣời.Mác đặt con ngƣời trong tính hiện thực, điều đó có nghĩa là hiện thực, không phải là cái gì trừu tƣợng mà là cụ thể - cảm tính. Con ngƣời đƣợc hiện ra dƣới hoạt động thực tiễn, phong phú đa dạng. Đó là con ngƣời sống trong một thời đại nhất định, một môi trƣờng gia đình nhất định với các điều kiện tự nhiên, sinh quyển, khí quyển… và những mối quan hệ phức tạp, ngày càng phong phú cùng với sự phát triển của văn minh. Tiếp theo, phải xem xét bản chất con ngƣời trong tính hiện thực ấy là “tổng hoà những quan hệ xã hội”.
Những quan hệ xã hội đƣợc nói đến ở đây cần đƣợc hiểu là chúng bao gồm cả những quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên, giữa con ngƣời và con ngƣời trong xã hội, do đó những quan hệ ấy làm thành những hệ thống xác định. Tuy nhiên, điểm trọng tâm là phải làm rõ thế nào là “tổng hoà những quan hệ xã hội”. Kết hợp luận điểm này với những luận giải của C.Mác về xã hội, về con ngƣời và đặc biệt là về lợi ích trong các tác phẩm trƣớc của ông (rõ nhất là trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 và Gia đình thần thánh) thì có thể khẳng định chắc chắn một điều là sẽ không thể hiểu đƣợc nhƣ thế nào “tổng hoà những quan hệ xã hội”, nếu không căn cứ vào quá trình lao động sản xuất vật chất, vào các quan hệ lợi ích, tức là các quan hệ kinh tế, xem đó nhƣ những quan hệ cơ bản. Do đó, để hiểu bản chất con ngƣời là “tổng hoà những quan hệ xã hội”, thì trƣớc hết phải thừa nhận, phải thấy đƣợc một tổng thể những quan hệ xã hội hiện thực vốn có của con ngƣời (cá nhân), trong đó quan hệ cơ bản là quan hệ lợi ích, quan hệ kinh tế tồn tại nhƣ là nguồn gốc, cơ sở xác lập nên bản chất của nó, tức là quy định nên sự “tổng hoà” đó.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi hoạt động sinh sống trong một tổng thể những quan hệ xã hội vốn có ấy, con ngƣời đã kết tinh, tổng hợp vào mình hệ thống những quan hệ ấy theo cách riêng của mình và hình thành nên ở mình một tổng hoà những quan hệ ấy dƣới dạng tiềm năng (vật chất và tinh thần) và cái tiềm năng ấy lại biểu hiện ra, khẳng định cũng trong tổng thể những quan hệ xã hội vốn có của con ngƣời. Nhƣ thế, nếu kết hợp với quan điểm của C.Mác về bản chất của con ngƣời trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, chúng ta thấy bản chất của con ngƣời không phải cái gì đó tĩnh tại, “câm lặng” trong nó, mà là quá trình không ngừng đƣợc xác lập và đƣợc biểu hiện ra trong sự tồn tại, hoạt động của con ngƣời với tƣ cách là tổng hoà của những quan hệ xã hội vốn có của nó.Mác xét con ngƣời trong tổng hòa các quan hệ xã hội để nhằm đối lập với luận điểm coi con ngƣời đơn thuần nhƣ một phần của giới tự nhiên còn bỏ qua không nói gì đến mặt xã hội của con ngƣời, đồng thời C.Mác cũng nhấn mạnh mặt xã hội, yếu tố đặc trƣng trong nhân cách con ngƣời - yếu tố đặc thù để phân biệt con ngƣời và con vật. Nhƣ vậy, trong quá trình hoạt động thực tiễn năng động, tích cực, con ngƣời đã hình thành nên những quan hệ xã hội và các quan hệ xã hội lại tạo lập nên bản chất xã hội của con ngƣời. Nói một cách khác, tất cả các quan hệ xã hội đƣợc tổng hòa một cách biện chứng lại tạo thành bản chất con ngƣời, cho dù đó là con ngƣời xã hội nói chung hay con ngƣời cá nhân riêng lẻ.Mác viết trong Hệ tư tưởng Đức: “sự phát triển của một cá nhân đƣợc quyết định bởi sự phát triển của tất cả những cá nhân khác mà cá nhân ấy đang trực tiếp hoặc gián tiếp giao tiếp, rằng các thế hệ của những cá nhân quan hệ với nhau, bị ràng buộc với nhau… Tóm lại, chúng ta thấy rằng sự phát triển đang diễn ra và lịch sử của một cá nhân riêng lẻ tuyệt nhiên không thể tách rời với lịch sử của những cá nhân trƣớc kia hoặc cùng thời với mình, mà là do lịch sử quyết định” [46, 642].
Song nhƣ thế không có nghĩa là C.Mác chỉ đề cập đến mặt xã hội trong bản chất con ngƣời mà gạt bỏ yếu tố sinh học của nó. Trong các quan hệ xã hội của con ngƣời đều chứa đựng tính sinh học đƣợc biểu hiện ở nhu cầu, lợi ích… của con 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời ở mối quan hệ xã hội cụ thể. Mặt khác, các quan hệ xã hội của con ngƣời không tách rời với các quan hệ tự nhiên, hơn nữa, quan hệ của con ngƣời với con ngƣời không nằm ngoài mối quan hệ con ngƣời với tự nhiên. Bởi vì, nếu nhƣ chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trƣớc đƣợc những hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết đƣợc những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy.
Bởi thế, khi C.Mác viết: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa những quan hệ xã hội, thì tƣ tƣởng này của C.Mác không nhằm bàn đến toàn bộ vấn đề con ngƣời mà ở đây C.