CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NTTS 1. Khái niệm nuôi trồng thủy sản NTTS là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ, ruộng trũng, đầm phá, khí hậu.) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu là cá, tôm và các thủy sản khác.) có sự tham gia trực tiếp của con người. [26] Hoạt động này ở Việt Nam bao gồm nuôi, trồng các loại thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn với các hình thức nuôi chủ yếu theo phương pháp thâm canh, bán thâm canh, quảng canh và quảng canh cải tiến trong ao hồ, đìa, hầm; trên ruộng lúa; trong lồng bè trên mặt nước, hoặc trên biển… 1.
Khái niệm phát triển nuôi trồng thủy sản Phát triển nuôi trồng thuỷ sản là quá trình tăng lên về các yếu tố đầu vào như : diện tích, lao động, con giống, thức ăn, quy mô nuôi trồng, trình độ thâm canh cùng với các yếu tố đầu ra cũng gia tăng như: năng suất, sản lượng, giá trị, chủng loại, thị trường tiêu thụ. theo hướng hiệu quả, bền vững và đáp ứng nhu cầu xã hội. [26] Do đó, khi đánh giá sự phát triển NTTS chủ yếu tập trung xem xét kết quả tạo ra của quá trình sản xuất như: Sự tăng trưởng về quy mô NTTS (bao gồm sự gia tăng về diện tích, sản lượng, giá trị sản xuất và lao động trong NTTS); sự thay đổi cơ sản xuất; sự phát triển kỹ thuật sản xuất, chế biến và giống thủy sản; sự phát triển hình thức tổ chức sản xuất; tăng trưởng thị trường tiêu thụ sản phẩm; đóng góp vào phát triển xã hội và cải thiện môi trường. Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản - NTTS là một ngành phát triển trên phạm vi cả nước và có đối tượng sản xuất phức tạp so với các ngành sản xuất khác.
Trong NTTS thì đất đai, diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, NTTS có tính thời vụ cao. - Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những cơ thể sống, chúng sinh trưởng, phát triển theo các quy luật sinh học. Một số sản phẩm thủy sản được giữ lại làm giống để tham gia vào quá trình tái sản xuất vụ sau. Do đó, trong quá trình NTTS phải quan tâm đến việc sản xuất, nhân ra các loại giống tốt.
- Ngành NTTS còn nhỏ, phân tán, lao động chủ yếu là thủ công, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và quản lý còn kém và trình độ sản xuất còn lạc hậu. Trong NTTS, đất đai, diện tích mặt nước phân bố không đều giữa các vùng, ảnh hưởng đến công tác quản lý NTTS. Vai trò của phát triển NTTS a. Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội NTTS ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm tiêu dùng cho con người trên toàn thế giới.
Theo dự báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO), trong bối cảnh sản lượng thủy sản từ hoạt động khai thác trong 30 năm qua hầu như không tăng hoặc giữ nguyên, đặc biệt là tại các quốc gia phát triển, cùng với sự tăng trưởng không ngừng của dân số toàn cầu sẽ dẫn đến nhu cầu phát triển không thể tránh khỏi của hoạt động NTTS. NTTS là một trong những ngành tạo ra thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tầm vĩ mô, dưới góc độ ngành kinh tế quốc dân, NTTS đã góp phần bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho người dân, góp phần chuyển Luan van 15 đổi cơ cấu thực phẩm, nguồn dinh dưỡng dồi dào trong bữa ăn. FAO cũng ước tính rằng, trong bối cảnh tăng trưởng dân số thế giới và tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản bình quân đầu người, đặc biệt là tại các quốc gia phát triển, đến năm 2030, thế giới sẽ cần thêm khoảng 40 triệu tấn thực phẩm thủy sản bổ sung để phục vụ cho mục đích tiêu dùng của loài người.
Và không có nguồn nào khác, chính NTTS sẽ là lĩnh vực đáp ứng phần lớn lượng nhu cầu thực phẩm thủy sản bổ sung này. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế NTTS tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng. Trong nhiều năm liền, ngành thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngành có vị trí xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành thuỷ sản là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD.
Từ năm 1986 đến nay kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2016, thủy sản tiếp tục khẳng định là ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn lớn nhất trong kim ngạch của toàn ngành nông nghiệp, với giá trị 7 tỉ USD. Tổng sản lượng thủy sản cả năm ước đạt hơn 6,7 triệu tấn; trong đó, tỷ trọng sản lượng NTTS chiếm hơn 54%, cao hơn năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng 6,5%.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phát triển NTTS làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, thu hút hàng vạn lao động dư thừa, nông nhàn ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho dân cư trong vùng. Ngư dân vùng ven biển từ chỗ chỉ sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, đánh bắt khai thác nguồn lợi hải sản ven bờ nay đã vươn ra ngoài khơi với công cụ kỹ thuật hiện đại mà mục tiêu kinh doanh đã mang tính hàng hóa rõ rệt. Nhưng thực tế, khai thác vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy sản ngày càng cao trong cộng đồng dân cư. Cho nên, một bộ phận khá lớn dân cư vùng nông thôn đã tận Luan van 16 dụng mặt nước để phát triển NTTS, mang lại hiệu quả cao hơn so với các ngành sản xuất nông nghiệp khác.
Chính NTTS đã tạo chỗ làm mới cho lao động nông thôn, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng đa ngành, đa sản phẩm, xóa dần thế độc canh trong nông nghiệp, nông thôn. Trong những năm qua một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang NTTS. Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thủy sản trên thị trường những năm gần đây tăng, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa NTTS và nông nghiệp càng trở nên cấp bách. Chính phủ đã đưa ra Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quá trình chuyển đổi diện tích NTTS càng diễn ra nhanh, mạnh và rộng khắp hơn.
Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thủy sản chuyển dịch theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gắn với thị trường. Tỷ trọng nông nghiệp (nông, lâm, diêm, ngư nghiệp) trong tổng GDP cả nước giảm dần từ 19,52% năm 2011 xuống 16,41% năm 2016. Tỷ trọng nông nghiệp thuần vẫn duy trì ở mức cao, năm 2011 chiếm tỷ lệ 77,5% và giảm còn 73,6% vào năm 2016; lâm nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng giảm còn 2,3% vào năm 2016; thủy sản chiếm tỷ trọng từ 21% năm 2011 tăng lên 24% vào năm 2016. Giải quyết việc làm và tăng thu nhập Ao hồ nhỏ là một thế mạnh của NTTS ở các vùng nông thôn Việt Nam.
Người nông dân sử dụng ao hồ nhỏ như một cách tận dụng đất đai và lao động. Hầu như họ không phải chi phí nhiều tiền vốn vì phần lớn là nuôi quảng canh. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người nông dân tận dụng các mặt nước ao hồ nhỏ trong NTTS nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như cá mè, trắm, các loại Luan van 17 cá chép, trôi Ấn Độ và các loài rô phi đơn tính. Trong những năm gần đây, NTTS đã từng bước chuyển từ phương thức nuôi quảng cảnh sang thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp.
Các vùng NTTS rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hóa lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ NTTS. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản Các sản phẩm thủy sản ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân cư, thì một phần lớn được cung cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Có một đặc điểm dễ dàng nhận thấy là thông qua hoạt động chế biến thì giá trị của các sản phẩm thủy sản được nâng tầm giá trị. Việc chế biến các sản phẩm thủy sản dùng công nghệ bao gói chủ yếu nhằm mục đích cung cấp cho các đô thị lớn.
Để các sản phẩm này thực sự làm hài lòng người tiêu dùng thì chất lượng sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, vấn đề đặt ra là phải đảm bảo chất lượng thủy sản từ khâu nuôi trồng, chúng ta chỉ có đầu ra khi có sản phẩm sạch. Tác động tích cực lên biến đổi khí hậu Với các đặc điểm cấu tạo cơ thể đặc biệt nên các loài cá có nhiều ưu thế tự nhiên tích cực đối với việc giảm nhẹ các hiện tượng của biến đổi khí hậu như làm giảm lượng phát thải cacbon trong khí quyển và giảm sự nóng lên của Trái đất. Do trọng lượng riêng của cá gần bằng 1 và chúng có khả năng nổi trong nước nên cá cần ít năng lượng hơn để duy trì trọng lượng cơ thể so với các loài động vật khác.
Đồng thời cũng do cá nổi được trong nước nên khác với các động vật trên cạn, nó không cần nhiều năng lượng để di chuyển và giữ vị trí trong nước. Bên cạnh đó NTTS phát triển góp phần làm đa dạng hóa sinh học, tạo cân bằng trong chuỗi thức ăn. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Gia tăng sản lượng NTTS Phát triển NTTS đầu tiên là sự gia tăng sản lượng.
Sản lượng NTTS tăng lên là kết quả của quá trình phân bổ nguồn lực vào sản xuất thủy sản theo cách nào, có hợp lý và hiệu quả không. Sự gia tăng sản lượng liên tục theo thời gian là sự phát triển cả lượng và chất của NTTS.