CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NUÔI CÁ TRA 1. Khái niệm nuôi cá tra Nuôi cá tra là một bộ phận của ngành nuôi trồng thuỷ sản. Nuôi cá tra ra đời cũng bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống khi mà sản lượng khai thác cá tra tự nhiên ngày càng có nguy cơ cạn kiệt.
Nước ta có một tiềm năng to lớn để phát triển hoạt động nuôi cá tra. Nuôi cá tra là một bộ phận sản xuất có tính nông nhiệp nhằm duy trì, bổ sung, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Nuôi cá tra nhằm mục đích cung cấp sản phẩm cho tiêu dùng của dân cư và cung cấp nguyên liệu cho hoạt đông chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Vai trò của nuôi nuôi cá tra a.
Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu của con người đó là lương thực, thực phẩm, đó là loại sản phẩm có vai trò đầu tiên quyết định mọi hoạt động của con người. Nếu không có sản phẩm này thì con người không thể tồn tại và phát triển được. Nuôi trồng thuỷ sản cũng là ngành sản xuất vật chất và cung cấp sản phẩm cho con người như cá, tôm, cua, ghẹ…những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho con người giúp con người có thể tạo ra các hoạt động trong xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng nâng cao, thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao, người ta hướng đến những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, bổ dưỡng và thuỷ sản là một trong những sản phẩm như thế.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nuôi trồng thuỷ sản đóng góp một phần quan trọng trong tăng tưởng chung của ngành thuỷ sản và toàn ngành kinh tế nói chung. Đối tượng của nuôi trồng thuỷ sản là những sinh vật thông qua hoạt động chế biến chúng tạo thành những sản phẩm có giá trị dinh dưõng và giá trị kinh tế cao. Việc tiêu thụ những sản phẩm này trong nội địa hay xuất khẩu sang thế giới đều giúp cho nhà nước ta thu được lợi nhuận, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của toàn ngành kinh tế nói chung. Ngành thuỷ sản phát triển mở ra một cơ hội mới cho nền kinh tế của đất nước.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong xu thế đất nước đang chuyển mình hoà nhịp vào nền kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng có sự phát triển trông thấy, tăng trưởng kinh tế của nước ta năm 2007 đạt 8,5%. Ngay trong bản thân ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch là tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm. Ngành thuỷ sản phát triển cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta, và đóng góp vào sự tăng trưởng của toàn nền kinh tế nói chung. Xu hướng chuyển đổi diện tích trồng trọt kém hiệu quả sang việc sử dụng hiệu quả hơn bằng cách phát triển nuôi trồng thuỷ sản đã và đang diễn ra mạnh mẽ.
Bên cạnh đó phát triển nuôi trồng thuỷ sản cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn và quan trọng hơn cả là sự tham gia của các hộ gia đình nông thôn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển cũng kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ và công nghiệp như các cơ sở sản xuất thức ăn, các công ty chế biến thuỷ sản. Giải quyết việc làm và tăng thu nhập Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hút một lực lượng đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước. Nuôi trồng thuỷ sản góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận dân cư, giúp họ tạo thêm được thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình.
Gia đình là tế bào của xã hội, một khi bản thân các tế bào có phát triển thì xã hội mới tốt đẹp được. Do vậy, chúng ta đang hướng tới một xã hội công bằng, văn minh, ở đó mọi người đều được bình đẳng như nhau. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển cũng góp phần giảm bớt sự chênh lệch giữa nông thôn với thành thị. Ngày nay khi nền kinh tế đã có sự phát triển trông thấy thì mức sống của người dân ngày càng được nâng cao hơn.
Điều đó được thể hiện ở chỗ người ta chuyển từ nhu cầu hàng hóa cấp cao như thịt, trứng, sữa, thủy sản…Và các sản phẩm thủy sản cũng đáp ứng một cách đa dạng nhu cầu của nhân dân từ những sản phẩm bình dân như cá tôm đến những mặt hàng xa xỉ như ghẹ, cua biển , tôm hùm… Nó sẽ làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng trong tầng lớp dân cư. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản Các sản phẩm thủy sản ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân cư, thì một phần lớn được cung cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Có một đặc điểm dễ nhận thấy là thông qua hoạt động chế biến thì giá trị của các sản phẩm thủy sản được nâng tầm giá trị. Việc chế biến các sản phẩm thủy sản dùng công nghệ bao gói chủ yếu nhằm mục đích xuất khẩu sang thị trường thế giới.
Để các sản phẩm này thực sự làm hài lòng người tiêu dùng ngoại quốc thì chất lượng sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, vấn đề đặc ra là phải đảm bảo chất lượng thủy sản từ khâu nuôi trồng, chúng ta chỉ có đầu ra khi có sản phẩm sạch. Đặc điểm của hoạt động nuôi cá tra a. Thủy vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế Đối tượng của nuôi cá tra là gắn với môi trường nước, nếu tách chúng ra khỏi môi trường này thì chúng không thể tồn tại được.
Từ đặc điểm này cho ta thấy được nuôi cá tra là một nghề tương đối phức tạp so với các nghề khác. Do vậy nuôi cá tra có khả năng phát triển ở một số nơi phù hợp. Đặc tính của loài cá tra là đối tượng thích hợp nước ngọt và lợ dưới 6%o. Thủy vực còn là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi nó khác với tư liệu sản xuất khác, nếu biết sử dụng cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng thì thủy vực không bị hao mòn, chất lượng không giảm đi trong quá trình sử dụng mà còn tốt hơn.
Đối tượng hoạt động nuôi cá tra là sinh vật thủy sinh Cũng giống như sản xuất nông nghiệp, đối tượng của nuôi cá tra là các cở thể sống. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Các cơ thể sống này rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh, chỉ một sự biến động nhỏ của môi trường sống cũng dễ gây ảnh hưởng đến bản thân của vật nuôi này. Các ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài như: gió, mưa, bão, lũ lụt, hạn hán, độ mặn, nhiệt độ, môi trường ô nhiểm… đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng.
Nuôi cá tra mang tính thời vụ Dựa trên qui luật sinh trưởng và phát triển của cá tra mà con người tác động đến chúng thông qua quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ mục đích cuộc sống. Tuy nhiên, nuôi cá tra cũng phụ thuộc rất nhiều vào tác động của tự nhiên do đó mà thời gian lao động và thời gian nuôi không trùng khớp với nhau dẫn đến tính thời vụ trong nuôi cá tra. Tính thời vụ trong nuôi cá tra đã dẫn đến tình trạng người nuôi có lúc rất bận rộn còn có những lúc lại nhàn rỗi. Đặc điểm này đòi hỏi trong nuôi cá tra một mặt phải tôn trọng tính thời vụ, mặt khác phải giảm bớt tính thời vụ bằng Luan van 12 cách: đối với nuôi cá tra phải cần tập trung nghiên cứu cá tra giống có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể nuôi đúng vụ trong năm.
Nuôi cá tra mang tính vùng rõ rệt Nuôi cá tra được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm này cho thấy ở đâu có thủy vực phù hợp và lao động thì ở đó có khả năng nuôi cá tra. Tuy nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia đều có những điều kiện về nguồn nước và thời tiết khí hậu khác nhau nên đặc điểm nuôi cá tra cũng không giống nhau nên đặc điểm nuôi trồng thủy sản cũng không giống nhau. Từ đặc điểm này đòi hỏi các vùng, các địa phương phải nắm bắt rõ điều kiện nuôi cá tra trên địa bàn để phát triển nuôi cá hợp lý đem lại hiệu quả cao.
NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA 1. Gia tăng sản lượng và bảo đảm cơ cấu nuôi trồng hợp lý Sự phát triển nuôi cá tra đầu tiên là sự gia tăng sản lượng. Sản lượng cá tra tăng lên là kết quả của quá trình phân bổ nguồn lực vào sản xuất thủy sản theo cách nào, có hợp lý và hiệu quả không. Sự gia tăng sản lượng liên tục theo thời gian là sự phát triển cả lượng và chất của nuôi cá tra.
Theo các mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng thì quá trình gia tăng sản lượng này sẽ theo xu hướng từ đa canh tới chuyên canh trên cơ sở chuyên môn hóa cao, từ sản xuất hộ gia đình quy mô nhỏ sang theo mô hình trang trại chuyên canh quy mô lớn, từ một khâu sản xuất đơn thuần sang tham gia sâu vào chuỗi giá trị hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước. Nhìn chung sự phát triển này sẽ chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển sản xuất theo chiều sâu. Sự gia tăng sản lượng không chỉ nhờ chuyển dịch cơ cấu nuôi cá tra hợp lý mà còn phụ thuộc vào khả năng huy động các nguồn lực đế phát triển theo theo chiều rộng và chiều sâu. Đồng thời quá trình này gắn liền Luan van 13 với việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong nuôi cá tra cũng như tổ chức tốt sản xuất theo mô hình tiên tiến.
Đồng thời bảo đảm cung cấp các dịch vụ sản xuất thủy sản có chất lượng và các giải pháp về thị trường cho sản phẩm cá tra.