Phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung Luận án kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Cơ sở l luận và kinh nghiệm trong nƣớc về phát triển nông nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 3: Thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dƣơng trong bối cảnh hội nhập giai đoạn 2011 – 2016 Chƣơng 4: Quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dƣơng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn 2030 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu quốc tế 1. Những nghiên cứu về vai trò, các giai đoạn và các kiểu phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp - Simon Kuznets (1961) trong nghiên cứu: “The Role of Agriculture in Economic Development” (Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế) cho rằng, việc xây dựng nền nông nghiệp năng động và vững mạnh là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy nền công nghiệp phát triển, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế bền vững. Nông nghiệp là nơi cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng nội địa; là nơi xuất khẩu nông sản thu ngoại tệ; là nơi cung cấp nguồn nhân lực, nơi tiêu thụ sản phẩm cho các khu vực khác, nhất là khu công nghiệp.
Ông cho rằng nông nghiệp là nơi làm tăng nguồn tiết kiệm trong nƣớc để tạo vốn cho phát triển công nghiệp. [104] - Simon Kuznets (1965) trong tác phẩm: “Economic Growth and Structure” (Tăng trƣởng kinh tế và cơ cấu) khẳng định sự đóng góp của ngành nông nghiệp vào tăng trƣởng kinh tế thông qua việc trao đổi buôn bán nông sản với các khu vực trong nƣớc và các nƣớc khác trên thế giới; nông nghiệp là nơi cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, thị trƣờng đầu vào, thị trƣờng vốn, thị trƣờng đầu ra cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Schumacher (1973) trong tác phẩm: “Small is beautiful” (Nhỏ là đẹp) cho rằng phải chú đến phát triển nông nghiệp, nhất là đối với các nƣớc đang phát triển; cần kết hợp hài hòa và phát triển cân đối giữa hai ngành công nghiệp và nông nghiệp, ông cho rằng cần phải dùng những thành quả đạt đƣợc của ngành công nghiệp để phục vụ lại cho sự phát triển của ngành nông nghiệp, làm cho ngành nông nghiệp phát triển bền vững hơn; phát triển ngành nông nghiệp cần đặt trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, cần chú trọng và tăng cƣờng đến 8 yếu tố cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, nâng cao tính tự chủ của ngƣời nông dân trong quá trình ra quyết định sản xuất, đảm bảo chuyển dần nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; kết hợp giữa phát triên nông nghiệp, công nghiệp, và các ngành khác, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Theo ông, cần ƣu tiên đầu tƣ cho lĩnh vực nông nghiệp, đầu tƣ vào nguồn nhân lực.
[102] - Theo lý thuyết của W. Rostow: quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đƣợc chia thành 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trƣởng và mức tiêu dùng cao. Ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấu kinh tế đặc trƣng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy. Theo mô hình này, then chốt nhất là giai đoạn “cất cánh”.
Để chuẩn bị điều kiện cất cánh nền kinh tế phải có một hoặc nhiều ngành chủ đạo cho “cất cánh”. Nông nghiệp trong giai đoạn chuẩn bị “cất cánh” có nhiệm vụ nhƣ một cuộc cách mạng nông nghiệp nhằm đảm bảo lƣơng thực, thực phẩm cho dân cƣ. L thuyết của ông có nghĩa trong việc xác định trình độ phát triển của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn và đƣa ra những gợi cho các nhà hoạch định chiến lƣợc Việt Nam “đi t t đón đầu” cho sự lựa chọn cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, tăng trƣởng là một quá trình liên tục chứ không phải đứt đoạn nên khó có thể phân chia thành những giai đoạn chính xác nhƣ vậy.
Mặt khác, sự tăng trƣởng và phát triển ở một số nƣớc không nhất thiết phải phân chia 5 giai đoạn nhƣ trên và “tại sao cất cánh lại xảy ra ở nƣớc này mà không xảy ra ở nƣớc khác?” thì lý thuyết chƣa giải thích đƣợc điều đó [28]. - Peter Timmer (tiếp thu và phát triển các l thuyết của các nhà kinh tế đã công bố về các quá trình phát triển nông nghiệp) phân quá trình phát triển nông nghiệp của một nƣớc thành 4 giai đoạn. Giai đoạn 1 đƣợc đặc trƣng bởi năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chuyển sang các lĩnh vực khác một cách chậm chạp. Do vậy, chính sách của chính phủ giai đoạn này là tập trung vào đầu tƣ đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tạo ra công nghệ mới, đầu tƣ vào kết 9 cấu hạ tầng nông thôn, tạo ra cơ cấu thị trƣờng và giá cả có lợi cho nông dân nhằm kích thích phát triển sản xuất và áp dụng công nghệ mới.
Giai đoạn 2 là giai đoạn nông nghiệp đóng góp cho nền kinh tế, nông nghiệp nhờ tạo ra sản phẩm dƣ thừa, sẽ chuyển các nguồn lực tài chính và lao động sang các khu vực khác của nền kinh tế với tốc độ nhanh, chủ yếu đầu tƣ cho quá trình công nghiệp hóa. Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này là tiếp tục duy trì tăng trƣởng ổn định cho lĩnh vực nông nghiệp. Giai đoạn 3 là giai đoạn nông nghiệp tham gia mạnh hơn vào quá trình phát triển kinh tế thông qua kết cấu hạ tầng cải thiện, thị trƣờng lao động và thị trƣờng vốn phát triển, thúc đẩy sự liên kết giữa kinh tế nông thôn và thành thị. Lĩnh vực nông nghiệp sẽ chịu ảnh hƣởng nhiều hơn bởi giá cả thay đổi và bởi các vận động vĩ mô trong kinh tế thƣơng mại.
Trong giai đoạn này, lao động nông nghiệp sẽ giảm xuống và chuyển tài nguyên cũng nhƣ lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế sẽ bị chững lại. Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này cần thúc đẩy tính hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, điều tiết thu nhập giữa nông thôn và thành thị. Giai đoạn 4 đƣợc đặc trƣng bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế công nghiệp, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp và ngân sách chi cho nhu cầu tiêu thụ lƣơng thực và thực phẩm chiếm phần nhỏ trong ngân sách chi tiêu của các gia đình thành thị.2 Tổng quan các nghiên cứu về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh nghiệm phát triển nông nghiệp - Douglass C.North (1998), “Áp dụng l thuyết kinh tế và phƣơng pháp định lƣợng trong giải thích các thay đổi về kinh tế và tổ chức” - công trình đoạt giải Nobel năm 1993 đã chia quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế thành 4 thời kỳ tùy theo chi phí thông tin và cƣỡng chế thực hiện hợp đồng của mỗi thời kỳ: Thời kỳ tự cung, tự cấp trong quy mô nông nghiệp làng xã; 10 Thời kỳ sản xuất hàng hóa nhỏ, quan hệ sản xuất kinh doanh vƣơn ra ngoài phạm vi làng xã, tới mức vùng; Thời kỳ sản xuất hàng hóa quy mô trung bình; Thời kỳ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. [101] - Bargeret Pascal (2005) trong cuốn: “Nông dân, Nhà nƣớc và thị trƣờng ở Việt Nam.
Mƣời năm hợp tác nông nghiệp trong lƣu vực sông Hồng” đã đề cập đến lối tƣ duy bao cấp của ngƣời dân nông thôn lƣu vực sông Hồng những năm 1980 - 1990 ở Việt Nam, lối tƣ duy đó đã ảnh hƣởng không nhỏ đến cách thức làm ăn cũng nhƣ đời sống của họ khi chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, đồng thời ông đã khái quát hóa những chính sách của Việt Nam đối với nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn từ 1986 đến 2005. Herren trong cuốn “Báo cáo kinh tế xanh” (2011) của UNEP thì việc phát triển nền nông nghiệp xanh để hƣớng đến nền nông nghiệp sạch nhằm các mục tiêu: Duy trì và tăng năng suất của các sản phẩm nông nghiệp trong khi đó vẫn đảm bảo việc cung cấp lƣơng thực cho nền tảng của sự bền vững; giảm thiểu những tác động tiêu cực và tạo ra những tác động có lợi cho môi trƣờng; khôi phục các nguồn tài nguyên sinh thái và sử dụng các nguồn tài nguyên hợp l và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, ngƣời dân địa phƣơng phải thích nghi với những kỹ thuật, phƣơng thức canh tác nông nghiệp và có kiến thức cũng nhƣ hiểu biết của mình về những chứng chỉ, nhãn hiệu của thị trƣờng nhƣ GAP, sản phẩm sinh học hay sản phẩm hữu cơ, nông nghiệp sinh thái… và những kỹ thuật liên quan. [106] - Học thuyết Keynes, ra đời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cuối những năm 29 đầu những năm 30 của thế kỷ XX.
Học thuyết vạch rõ vai trò to lớn của thị trƣờng đối với phát triển kinh tế, từ đó xác định rõ cần phải áp dụng nhiều biện pháp nâng cao nhu cầu tiêu dùng, kích thích “cầu có hiệu quả”, tức là tìm biện pháp mở rộng thị trƣờng trong nƣớc và ngoài nƣớc. Ý tƣởng này gợi lên suy nghĩ về quá trình HĐH nền nông nghiệp, đồng thời cũng là quá trình phát triển 11 kinh tế hàng hóa, tìm thị trƣờng và mở rộng thị trƣờng cho nền kinh tế. Bernis trong L thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối cho rằng các nƣớc chậm phát triển không thể và không nhất thiết phải đảm bảo tăng trƣởng bền vững bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành, mà cần tập trung tài nguyên, vốn, năng lực quản l vào những ngành chủ yếu. Trong mỗi giai đoạn phát triển của thời kỳ CNH, vai trò "cực tăng trƣởng" của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau.
Vì thế, cần tập trung các nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trong những thời điểm nhất định với nghĩa là những ngành, lĩnh vực đầu tàu lôi kéo toàn bộ nền kinh tế phát triển. [98] - Barbara Chmielewskan (2009) trong cuốn "The Problems of Agriculture and Rural Areas in the Process of European Integration” (Vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong quá trình hội nhập châu Âu) đã cho rằng, các ngành nông nghiệp ít có cơ hội phát triển nếu không có sự hỗ trợ tài chính của chính phủ EU, đặc biệt là tại các nƣớc kém phát triển.